1. Đề minh họa : Tháng 10/2016 (Đáp án tham khảo)
2. Đề thử nghiệm: Tháng 2/2017 (Đáp án tham khảo)
Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017
BGD HƯỚNG DẪN VỀ CÁC CẤP ĐỘ NHẬN THỨC TRONG XÂY DỰNG MA TRẬN
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM TRA ĐÁNH
GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN NGỮ VĂN
(Trích tài
liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD tháng 6/2014)
----------------------------
1.
Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng năng lực
Về phương diện nhận thức, người ta
chia các mức quá trình nhận thức và các bậc trình độ nhận thức tương ứng như
sau:
Các mức
quá trình
|
Các bậc trình độ nhận
thức
|
Các đặc điểm
|
1. Hồi tưởng thông tin
|
Tái hiện
Nhận biết lại
Tái tạo lại
|
- Nhận biết lại cái gì
đã học theo cách thức không thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã
học theo cách thức không thay đổi.
|
2. Xử lý thông tin
|
Hiểu và vận dụng
Nắm bắt ý nghĩa
Vận dụng
|
- Phản ánh theo ý nghĩa cái đã học.
- Vận dụng các cấu trúc đã học trong tình huống tương tự.
|
3. Tạo thông tin
|
Xử lí, giải
quyết vấn đề
|
-
Nghiên cứu có
hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng.
- Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình huống mới.
- Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu chí riêng
|
2.
A. Các dạng bài tập:Dựa trên các bậc nhận
thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng năng lực, có thể xây dựng bài
tập theo các dạng:
-
Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức. Bài tập tái hiện không
phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực.
-
Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình huống
không thay đổi. Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ
bản, chưa đòi hỏi sáng tạo.
-
Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp,
đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề.
Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học.
-
Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận dụng và
giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn. Những
bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều con
đường giải quyết khác nhau.
2.B. CÁC CẤP ĐỘ NHẬN THỨC
CÁC BẬC NHẬN THỨC
|
ĐỘNG TỪ MÔ TẢ
|
1. BIẾT (Knowledge) : Sự nhớ lại tài liệu đó được học
tập trước đó như các sự kiện, thuật ngữ hay các nguyên lý, quy trình.
|
(Hãy) định nghĩa, mô tả, nhận biết, đánh dấu, liệt kê, gọi
tên, phát biểu, chọn ra, phác thảo.
|
2. HIỂU (Comprehension): Khả năng hiểu biết về các sự kiện và
nguyên lý, giải thích tài liệu học tập, nhưng không nhất thiết phải liên hệ
các tư liệu.
|
(Hãy) biến đổi, ủng hộ, phân biệt, ước tính, giải thích, mở
rộng, khái quát, cho ví dụ, dự đoán, tóm tắt, viết một đoạn.
|
3. VẬN DỤNG THẤP
Khả năng
vận dụng tài liệu đó học vào các tình huống mới và cụ thể hoặc để giải các
bài tập.
Khả năng
phân tích sự liên hệ giữa các thành phần của một cấu trúc có tính tổ chức sao
cho có thể hiểu được, nhận biết được các giả định ngầm hoặc các ngụy biện có
lý.
|
(Hãy) xác định, khám phá, tính toán, sửa đổi, thao tác, dự
đoán, chuẩn bị, tạo ra, thiết lập liên hệ, chứng minh, giải quyết, sử dụng.
(Hãy) vẽ sơ đồ, phân biệt, minh hoạ, suy luận, chỉ ra,
thiết lập quan hệ, chọn ra, tách biệt ra, chia nhỏ ra.
|
4. VẬN DỤNG CAO
Khả năng đặt các thành phần với nhau để tạo thành một tổng thể hay hình
mẫu mới, hoặc giải các bài toán bằng tư duy sáng tạo.
Khả năng phê phán và thẩm định giá trị của tư liệu theo một mục đích nhất
định.
|
(Hãy) phân loại, tổ hợp
lại, biên tập lại, thiết kế, lý giải, tổ chức, lập kế hoạch, sắp xếp lại, cấu
trúc lại, tóm tắt, sửa lại, viết lại, kể lại.
(Hãy) đánh giá, so sánh,
đưa ra kết luận, thoả thuận, phê bình, mô tả, suy xét phân biệt, giải thích,
đưa ra nhận định, ủng hộ...
|
BGD HƯỚNG DẪN VỀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN CỦA HỌC SINH
(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
--------------------------
+ Đối với bộ công cụ là các
câu hỏi mở, một trong những cách chấm điểm là xây dựng rubric, đó là một tập hợp các tiêu chí và minh chứng xác định các
cách trả lời câu hỏi của HS cùng với những
chỉ số thực hiện đối với mỗi kết quả được quy định ở một mức chuẩn cụ thể.
Những chỉ số này được trình bày rõ ràng để tất cả mọi người có thể hiểu HS cần
phải làm gì, kết quả ra sao và minh chứng được kết quả học tập ở mỗi một mức độ (tốt, khá, trung bình hay không đạt). Việc chấm điểm theo rubric
cung cấp những thông tin cụ thể, xác thực giúp cho việc phân tích, xử lí kết
quả đánh giá được chính xác, khách quan.
--------------------------
*Đánh giá kĩ năng viết
của HS:
HS ở cấp THPT có thể tạo
lập được VB theo những phương thức khác nhau, đặc biệt là có thể viết được các
bài văn nghị luận (về xã hội hoặc văn học), nêu được quan điểm, tư tưởng riêng
của mình về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức
thuyết phục. Tuy nhiên, do cách ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng
kiến thức văn học, nên các đề kiểm tra viết hiện nay chưa tạo điều kiện cho HS
phát biểu những suy nghĩ riêng, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học vào
việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình.
- Cần đổi mới cách thức đánh giá kĩ năng viết của HS bằng cách ra đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên
môn). Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời
đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lôgic trong quá
trình đi đến câu trả lời.
- Trong quá trình làm bài, HS cần vận dụng các kiến
thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học cũng như kiến thức
liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,...) để giải quyết vấn đề mà đề
bài nêu ra.
- Đáp án không áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án
mà HS có thể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng
thời, nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến khích HS sử dụng
nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu
những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải
quyết vấn đề khác nhau miễn là tư tưởng của người viết không đi ngược lại những
chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã quy định;
-Khuyến khích HS vận dụng
được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách
có sức thuyết phục, hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em.
Cũng như KTĐG kĩ năng ĐH, đánh giá kĩ năng viết của HS phải được
tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì,
kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của
kĩ năng viết đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng viết của HS.
* KN
viết của HS bao gồm các yêu cầu sau:
- Cần xây dựng cho mình thái độ sẵn sàng
và những hiểu biết về kĩ thuật viết (văn phong) để viết một cách chính xác và
trôi chảy, lưu loát.
- Nội dung thể hiện:
+ Đề xuất và lựa chọn các ý tưởng cho bài viết; trình bày cho phù hợp với các
mục đích, đối tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
+ Lập dàn ý bằng cách xác định mục đích,
đối tượng và ngữ cảnh (trong đó xác định cách thể hiện và giọng điệu), đặt ra
mục tiêu cho các nhiệm vụ của bài viết hoặc các chủ đề.
+ Kích thích trí tưởng tượng, tạo ra
hoặc thu thập những ý tưởng phù hợp với các nhiệm vụ của bài viết hoặc chủ đề;
đưa ra những câu hỏi về các chủ đề; nghiên cứu các bài mẫu; suy nghĩ và và mô
tả những cảm xúc, quan điểm hoặc ý tưởng của cá nhân…
+ Thu thập, đánh giá, lựa chọn và tổng
hợp tài liệu phù hợp với mục đích của bài viết, nhu cầu/mong muốn của người đọc
và bối cảnh giao tiếp.
+ Phát triển, tổ chức và thể hiện ý
tưởng, quan điểm mạch lạc, chặt chẽ bằng văn bản để đáp ứng nhiều mục đích, đối
tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
*Ở cấp độ văn bản:
+ Tổ chức các sự kiện, ý tưởng và/hoặc
quan điểm một cách phù hợp với phương thức tạo lập văn bản, mục đích và đối
tượng mà VB hướng tới.
+ Sắp xếp các các chi tiết và ví dụ để
hỗ trợ/minh họa cho các nội dung chính của một VB cho phù hợp với mục đích, đối
tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
+ Tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các
phần của VB bằng cách: lựa chọn mô hình tổ chức/bố cục phù hợp với mục đích,
đối tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp (theo trình tự thời gian, theo hình
thức phân loại, theo thứ tự ưu tiên/tầm quan trọng, theo mối quan hệ nhân quả,
theo mối quan hệ so sánh và đối lập…), sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ (các
phương tiện liên kết) để giúp người đọc theo dõi được sự phát triển của các ý
tưởng hoặc mạch lập luận.
+ Sử dụng các chiến lược hỗ trợ (ví dụ:
những câu chuyện, các ý kiến của chuyên gia…) để: hỗ trợ quan điểm/hành động mà
người viết đề xuất trong VB để thuyết phục người đọc đồng tình với quan
điểm/hành động ấy; giải quyết những mối quan tâm, mong đợi của độc giả về quan
điểm hoặc hành động của người viết…
**Ở cấp độ đoạn văn:
+ Sử dụng một câu chủ đề để giới thiệu ý
tưởng chính trong một đoạn văn.
+ Giải thích và/hoặc làm rõ ý tưởng
chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan.
+ Sử dụng các phương tiện/phép liên kết
phù hợp (ví dụ: phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) để: chỉ ra mối
quan hệ giữa các đoạn/câu khác nhau và giữa các ý chính trong một đoạn; thể
hiện chức năng của một đoạn văn trong mối liên quan với các phần khác của VB.
+ Lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ cho hiệu
quả, phù hợp với nội dung, mục đích của đoạn văn. Thuyết phục người đọc chấp
nhận quan điểm/hành động của người viết thông qua các yếu tố như: độ dài của
câu, cấu trúc câu, mẫu câu, từ vựng, biện pháp tu từ, vần điệu,…
+ Nhắc lại nội dung/ý tưởng chính trong
phần kết đoạn.
-
Rà soát và chỉnh sửa để hoàn thiện bài viết .
Mục đích của rà soát, chỉnh sửa là tạo ra một
VB hoàn chỉnh để đạt được mục đích của người viết, đáp ứng nhu cầu của người
đọc, phù hợp với bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
Rà soát và điều chỉnh lại bài viết để nâng
cao tính phù hợp, tập trung, trong sáng và đạt được độ chính xác trong việc
chuyển tải ý nghĩa. HS có thể tự mình rà soát, điều chỉnh hoặc cần đến sự giúp
đỡ của giáo viên, bạn bè để: xác định cách diễn đạt hoặc ý tưởng/quan điểm
không phù hợp với người đọc và bối cảnh giao tiếp; thay thế, thêm, xóa và/hoặc
sắp xếp lại từ, cụm từ, câu, sự kiện, ý tưởng, chi tiết, quan điểm; thay đổi
trình tự sắp xếp các sự kiện, ý tưởng, chi tiết trong hoặc giữa các đoạn…
* Vận dụng/thực hành
viết một loạt các VB cho các mục đích khác nhau.
- Tất cả HS trung học phổ thông đều phải sử
dụng các kĩ năng viết nêu trên trong quá trình làm văn. Đây cũng là chuẩn viết
cần đạt của HS trung học phổ thông.
- GV có thể sử dụng các ngữ liệu là những văn bản trong
SGK hoặc các VB ngoài SGK nhưng có cùng thể loại, đề tài hoặc chủ đề với các VB
mà HS đã được học; cũng có thể lấy các VB được viết theo những phong cách ngôn
ngữ mà HS đã học (như phong cách ngôn ngữ báo chí, chính luận, khoa học, nghệ
thuật…) để thiết kế các câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra để rèn luyện và đánh giá
kĩ năng đọc hiểu VB và kĩ năng viết của HS.
- Để đánh
giá kĩ năng viết của HS, cần tăng cường ra các câu hỏi/đề kiểm tra theo hướng
mở, với những nội dung gắn với cuộc sống thực tiễn, với những trải nghiệm của
HS, giúp HS vận dụng được những kiến thức sách vở và cuộc sống để trình bày
những ý tưởng, cảm nhận, suy nghĩ sáng tạo về những vấn đề xã hội hoặc văn học.
- Cùng với bộ công cụ, cần xây dựng được hướng dẫn chấm đảm bảo tính
khoa học và chính xác.
+Hiện nay cách xây dựng hướng dẫn chấm có thể theo điểm
số hoặc theo mã hóa câu trả lời (theo hướng PISA).
BGD HƯỚNG DẪN VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
-------------------------------
3. Về đọc hiểu văn bản: Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm
vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để
tạo nên hiểu biết chung về VB.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng
những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau,
đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá
trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a)
Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về
chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể
loại của văn bản)
b) Thể hiện những hiểu biết
về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý
chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân
tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết,
biện pháp tu từ... trong VB.
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố
khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ, đồ thị… (nếu có).
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản.
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự
nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được
đưa ra.
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản.
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc
khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các nhân vật).
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình
tự các ý tưởng hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí
do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp.
+
Đưa ra những kết luận về văn
bản từ các thông tin, quan điểm của người viết...
-
Phản hồi và đánh
giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc,
suy nghĩ của người viết.
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng
của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử
dụng).
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ
phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với
các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…).
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ
vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và
quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó.
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản
đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các
nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc
hiểu.
+ Đọc các văn bản khác (ngoài CT, SGK) có cùng đề tài/chủ đề hoặc
hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu.
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết
bằng sự học hỏi từ nội dung của văn
bản đã đọc hiểu.
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một
nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã
đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc
hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng
trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề
được đặt ra. Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm
của đối tượng từ góc độ cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng,
ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ,
trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc trình bày ra những ý tưởng,
giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiễn… Viết sáng tạo được thể hiện ở
nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, do vậy cần tạo ra được
những cơ hội để HS thể hiện ngay trong quá trình dạy học đọc hiểu để HS đồng
thời phát triển các năng lực trong học tập.
4. Đánh giá kĩ năng đọc trong môn Ngữ văn
Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn
hiện nay là đánh giá kĩ năng
đọc và viết của HS. Việc đánh giá kĩ năng nghe và nói của môn học này chưa được
đề cập đến nhiều trong các nội dung học tập. Do vậy tài liệu chủ yếu trình bày những
nội dung về đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS trong môn học này.
a)
Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của HS: ở trường THPT,
kĩ năng đọc hiểu (ĐH) rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK hiện
nay là bài học về VB văn học. Tuy nhiên,
càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc ĐH và cảm
thụ lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu
hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường
nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu,
khám phá VB. Hơn nữa, VB được ĐH chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản
nhật dụng được đưa vào CT, SGK. Việc đánh giá kĩ năng đọc của HS hiện nay
thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội
dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn
đề nào đó của VB đã học). Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu các loại
VB khác nhau của người học.
Vì vậy, cần đổi mới đánh giá kĩ năng ĐH của HS bằng việc đưa ra
những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với
VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có
vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. Các câu hỏi đánh giá kĩ năng ĐH và cảm
thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả
lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên
những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp.
Đánh giá kĩ năng ĐH của HS phải được tiến hành thường xuyên trong
các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt
nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của kĩ năng đọc đã trình bày ở trên là chuẩn
để đánh giá khả năng đọc hiểu của HS. Ngoài ra, có thể vận dụng 6 mức độ mà
Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã nêu để đánh giá kĩ năng ĐH của HS
như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được
nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người
đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một
hoặc nhiều VB và có thể tích hợp thông tin từ nhiều VB. Nhiệm vụ này cũng có
thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác
nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của
VB. Phản ánh và đánh giá có thể yêu
cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một VB có tính tổng hợp/đa
dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc
về VB. Một điều kiện quan trọng đối với phản
ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm
đến từng chi tiết nhỏ trong VB.
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin,
yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan
đến các ý nằm sâu trong VB. Các nhiệm vụ phản
ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến
thức chuyên sâu/chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giải và phản ánh đều
đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một VB có nội dung hoặc hình
thức mới (không được in trong SGK – chúng tôi nhấn mạnh). Đối với tất cả các
khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với
các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường.
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu
cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong VB. Một
số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải
thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào
chỉnh thể của VB. Các nhiệm vụ diễn giải
khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử
dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh
giá một VB. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một VB dài
hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc.
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị
trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin.
Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này
đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một VB để xác định nội dung chính,
hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ. Người đọc cần phải đưa ra được những biểu
hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra
thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có
những trở ngại khác từ VB, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết) trái với kỳ vọng/suy nghĩ thông thường hoặc
có những cách diễn đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích,
hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của VB. Một số nhiệm vụ
phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của VB liên quan đến tri thức
hàng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết VB, nhưng yêu cầu
người đọc rút ra kiến thức ít phổ biến hơn.
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí
của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp
trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính
của một VB, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải
thích ý nghĩa của một phần của VB được giới hạn khi thông tin là không nổi bật
và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này
có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó
của VB. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh
hoặc tạo ra sự kết nối giữa các VB và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên
kinh nghiệm và thái độ của cá nhân.
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị
trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của
tác giả trong một VB về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn
giản giữa các thông tin trong các VB và kiến thức thông thường hàng ngày. Thông
thường các thông tin cần thiết trong VB là nổi bật và có rất ít tính cạnh
tranh/nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố
liên quan trong nhiệm vụ và trong VB.
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị
trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật
trong một VB đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại,
chẳng hạn như một VB tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các VB thông thường
cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông
tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh
tranh/nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện
các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau.
Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ
6, 5, 4 bao gồm việc hiểu VB được học, vận dụng vào đọc VB mới; các mức độ còn
lại áp dụng với những VB được học hoặc quen thuộc với người đọc.
Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017
HỌP CHUYÊN MÔN NGỮ VĂN THPT 15-02-2017
NỘI DUNG:
Chuyên viên phụ trách bộ môn Trần Tiến Thành triển khai:
1. Sơ kết HK1 2016-2017,
Trong đó nhấn mạnh rút kinh nghiệm việc làm đề theo các cấp độ ma trận.
2. Hướng dẫn chuyên môn HK2 của SGD và BGD
3. Chia sẻ kinh nghiệm
* Cô Triệu Thị Huệ chia sẻ kinh nghiệm ra đề, hướng dẫn học sinh học tập để đáp ứng được yêu cầu mới của kỳ thi QG 2017 trong môn Ngữ văn
-Phần đọc hiểu văn bản
-Phần viết đoạn văn
-Phần viết bài văn NLVH
==> Các thông tin chi tiết, cụ thể liên quan đến 20 đề thi đề xuất và các bài tham khảo được đúc kết trong cuốn sách "Ôn tập thi quốc gia THPT 2017" Môn Ngữ văn. do Cô Triệu Thị Huệ biên soạn
*Cô Lê Kim Mai chia sẻ các văn bản hướng dẫn của BGD liên quan đến:
- Nội hàm cách hiểu các cấp ma trận
- HD làm đề theo ma trận
- Tập huấn làm đề theo ma trận
- HD Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực học sinh
- Cách hiểu các cấp độ biết, hiểu, vận dụng thấp, VD cao trong môn Ngữ văn
-Các yêu cầu cụ thể đối với các dạng đề:
+Đọc hiểu văn bản
+Viết đoạn văn
+Viết bài văn
4.Chia sẻ qua mail:
1. Thư mục đề thi HK1 2016-2017 của gần 200 trường THPT
Tải về Đề thi HK1
2.Thư mục HD của BGD: các hướng dẫn, công văn pháp lý do BGD ban hành liên quan đến dạy - học -Kiểm tra -Thi quốc gia trong môn Ngữ văn (tải về)
https://drive.google.com/drive/folders/0B_-9imCVMc3DcXBYb1BKX2t6X0U
Cách thức chia sẻ:
- Thầy Thành mail gửi đến 8 thành viên HĐBM,
- Các TTCM ghi địa chỉ mail chỗ thành viên HĐBM để được chuyển tiếp các tư liệu liên quan.
-Nhấp vào line để tải tài liêu về.
Chuyên viên phụ trách bộ môn Trần Tiến Thành triển khai:
1. Sơ kết HK1 2016-2017,
Trong đó nhấn mạnh rút kinh nghiệm việc làm đề theo các cấp độ ma trận.
2. Hướng dẫn chuyên môn HK2 của SGD và BGD
3. Chia sẻ kinh nghiệm
* Cô Triệu Thị Huệ chia sẻ kinh nghiệm ra đề, hướng dẫn học sinh học tập để đáp ứng được yêu cầu mới của kỳ thi QG 2017 trong môn Ngữ văn
-Phần đọc hiểu văn bản
-Phần viết đoạn văn
-Phần viết bài văn NLVH
==> Các thông tin chi tiết, cụ thể liên quan đến 20 đề thi đề xuất và các bài tham khảo được đúc kết trong cuốn sách "Ôn tập thi quốc gia THPT 2017" Môn Ngữ văn. do Cô Triệu Thị Huệ biên soạn
*Cô Lê Kim Mai chia sẻ các văn bản hướng dẫn của BGD liên quan đến:
- Nội hàm cách hiểu các cấp ma trận
- HD làm đề theo ma trận
- Tập huấn làm đề theo ma trận
- HD Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực học sinh
- Cách hiểu các cấp độ biết, hiểu, vận dụng thấp, VD cao trong môn Ngữ văn
-Các yêu cầu cụ thể đối với các dạng đề:
+Đọc hiểu văn bản
+Viết đoạn văn
+Viết bài văn
4.Chia sẻ qua mail:
1. Thư mục đề thi HK1 2016-2017 của gần 200 trường THPT
Tải về Đề thi HK1

https://drive.google.com/drive/folders/0B_-9imCVMc3DcXBYb1BKX2t6X0UCách thức chia sẻ:
- Thầy Thành mail gửi đến 8 thành viên HĐBM,
- Các TTCM ghi địa chỉ mail chỗ thành viên HĐBM để được chuyển tiếp các tư liệu liên quan.
-Nhấp vào line để tải tài liêu về.
Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016
SGD-HCM hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2016-2017
Tải về: HD của SGD
https://drive.google.com/drive/folders/0B2hNoKExLcRgZ0FBaGc1Vk92UE0
-------------
HD của tổ chuyên môn
BB họp tổ Văn đầu năm học 2016-2017 ( tháng 9/2016)
https://drive.google.com/drive/folders/0B2hNoKExLcRgZ0FBaGc1Vk92UE0
-------------
HD của tổ chuyên môn
BB họp tổ Văn đầu năm học 2016-2017 ( tháng 9/2016)
Lúc 08g ngày 01/9/2016 tại Phòng GV (sau tổng dợt KG)
HD: 16/16 Vắng:00
Nội dung:
1. Thống nhất Kế hoạch năm học 2016-2017 Tổ Ngữ văn theo mẫu SGD
2. Hướng dẫn GV lập Kế hoạch dạy học (theo mẫu SGD- HD của Trường VTS và tổ chuyên môn)
1. Thống nhất Kế hoạch năm học 2016-2017 Tổ Ngữ văn theo mẫu SGD
2. Hướng dẫn GV lập Kế hoạch dạy học (theo mẫu SGD- HD của Trường VTS và tổ chuyên môn)
3. Hoàn thiện kế hoạch giảng dạy Tổ, Nhóm chuyên môn.
4. Tiếp tục bồi dưỡng Đổi mới SH Tổ, Nhóm CM qua mạng (Làm việc Nhóm qua Blog, qua Driver).
Trước 15/9 các GV hoàn thành 3 biểu mẫu trên drive theo các đường line:
- Hoàn thiện Phân công giảng dạy HK1 (TKB áp dụng từ 5/9/2016)
- Hoàn thiện Phân công giảng dạy HK1 (TKB áp dụng từ 5/9/2016)
- Đăng ký thi đua và tên các đề tài SKKN của GV giỏi, CSTĐCS
- Đề tài hướng dẫn HS tham gia NCKH, Thi tích hợp liên môn, Thi UDCNTT trong năm 2016-2017
5. Hoàn chỉnh đề cương 10-11-12 (2016-2017): K12, K11, K10
6. Thống nhất nội dung bài viết số 1:K10-11-12.
7. Triển khai nhiệm vụ năm học mới của Phong GDTrH-SGD về nội hàm và cách ra đề theo các cấp độ
năng lực và thống nhất ma trận đề tại VTS (Bài hệ số 1,2,3)
năng lực và thống nhất ma trận đề tại VTS (Bài hệ số 1,2,3)
8. Lưu ý-Rút kinh nghiệm
Nhãn:
1.Hướng dẫn,
2.Kế hoạch hoạt động,
2016-2017,
Dạy học tích hợp,
DH chủ đề liên môn,
DH tích hợp liên môn,
Điều hành,
GDTrH,
HD Đổi mới sinh hoạt tổ CM
Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016
Đề văn "hại não" ở Giarai
I.
Đọc hiểu (2 điểm)
“Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể
cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện
khi có tương tác, ít ra là hai vật thể tạo lửa. Lửa là kết quả của số nhiều. Cô
bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết vì thiếu lửa. Để rồi từ đó loài người đã cảnh
giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh để cho không còn em bé bán diêm nào phải chết
vì thiếu lửa?
Nước Việt hình
chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và truyền lửa, lẽ
nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ là con giun, con
rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì có “sốt” sắng,
“nhiệt” tình, đuối tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng! Sẽ đâu rồi “lửa”
yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi vai lạnh lẽo, ơ
hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh? Em... sống đời
thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ.... Cho nên: Biết ủ lửa
để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.
Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”
(Nhà văn Đoàn Lê Công Huy,Trích Thắp
mình để sang xuân)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được
sử dụng trong đoạn trích (0,25 điểm)
Câu 2: Trong đoạn trích trên tác giả sử dụng
thao tác lập luận nào (0,25 điểm)
Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn trích (0,5
điểm)
Câu 4: Viết 1 đoạn văn ngắn (khoảng 5 - 7 dòng)
thể hiện sự cần thiết của việc “nuôi lửa” ở lứa tuổi học sinh (1 điểm)
-----------------------
http://dantri.com.vn/su-kien/tranh-cai-quanh-de-thi-van-hai-nao-2016050912282362.htmĐề thi HK2-Giarai
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)