Hiển thị các bài đăng có nhãn 1.Hướng dẫn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 1.Hướng dẫn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

BGD HƯỚNG DẪN VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                                                          -------------------------------
3. Về đọc hiểu văn bản: Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về VB.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b)  Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết, biện pháp tu từ...  trong VB.
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ, đồ thị… (nếu có).
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản.
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được đưa ra.
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản.
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các nhân vật).
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp.
+  Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết...
-  Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết.
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử dụng).
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với  các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…).
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó.
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.
+ Đọc các văn bản khác (ngoài CT, SGK) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu.
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi từ nội dung của văn bản đã đọc hiểu.
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra. Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm của đối tượng từ góc độ cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng, ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ, trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc trình bày ra những ý tưởng, giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiễn… Viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, do vậy cần tạo ra được những cơ hội để HS thể hiện ngay trong quá trình dạy học đọc hiểu để HS đồng thời phát triển các năng lực trong học tập.
4. Đánh giá kĩ năng đọc trong môn Ngữ văn
Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn hiện nay là đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS. Việc đánh giá kĩ năng nghe và nói của môn học này chưa được đề cập đến nhiều trong các nội dung học tập. Do vậy tài liệu chủ yếu trình bày những nội dung về đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS trong môn học này.
a) Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của HS: ở trường THPT, kĩ năng đọc hiểu (ĐH) rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK hiện nay là bài học về VB văn  học. Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc ĐH và cảm thụ lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá VB. Hơn nữa, VB được ĐH chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật dụng được đưa vào CT, SGK. Việc đánh giá kĩ năng đọc của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của VB đã học). Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu các loại VB khác nhau của người học.
Vì vậy, cần đổi mới đánh giá kĩ năng ĐH của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. Các câu hỏi đánh giá kĩ năng ĐH và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp.
Đánh giá kĩ năng ĐH của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của kĩ năng đọc đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng đọc hiểu của HS. Ngoài ra, có thể vận dụng 6 mức độ mà Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã nêu để đánh giá kĩ năng ĐH của HS như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều VB và có thể tích hợp thông tin từ nhiều VB. Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của VB. Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một VB có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về VB. Một điều kiện quan trọng đối với phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ trong VB.
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong VB. Các nhiệm vụ phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giải và phản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một VB có nội dung hoặc hình thức mới (không được in trong SGK – chúng tôi nhấn mạnh). Đối với tất cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường.
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong VB. Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của VB. Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một VB. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một VB dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc.
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin. Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một VB để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ.  Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ VB, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết)  trái với kỳ vọng/suy nghĩ thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của VB. Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của VB liên quan đến tri thức hàng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết VB, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến ​​thức ít phổ biến hơn.
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một VB, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích ý nghĩa của một phần của VB được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của VB. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các VB và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân.
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một VB về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các VB và kiến thức thông thường hàng ngày. Thông thường các thông tin cần thiết trong VB là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong VB.
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một VB đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một VB tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các VB thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau.
Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ 6, 5, 4 bao gồm việc hiểu VB được học, vận dụng vào đọc VB mới; các mức độ còn lại áp dụng với những VB được học hoặc quen thuộc với người đọc.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

HỌP CHUYÊN MÔN NGỮ VĂN THPT 15-02-2017

NỘI DUNG:
Chuyên viên phụ trách bộ môn Trần Tiến Thành triển khai:
1. Sơ kết HK1 2016-2017,
Trong đó nhấn mạnh rút kinh nghiệm việc làm đề theo các cấp độ ma trận.
2. Hướng dẫn chuyên môn HK2 của SGD và BGD
3. Chia sẻ kinh nghiệm
* Cô Triệu Thị Huệ chia sẻ kinh nghiệm ra đề, hướng dẫn học sinh học tập để đáp ứng được yêu cầu mới của kỳ thi QG 2017 trong môn Ngữ văn
-Phần đọc hiểu văn bản
-Phần viết đoạn văn
-Phần viết bài văn NLVH
==> Các thông tin chi tiết, cụ thể liên quan đến 20 đề thi đề xuất và các bài tham khảo được đúc kết trong cuốn sách "Ôn tập thi quốc gia THPT 2017" Môn Ngữ văn. do Cô Triệu Thị Huệ biên soạn
*Cô Lê Kim Mai chia sẻ các văn bản hướng dẫn của BGD liên quan đến:
- Nội hàm cách hiểu các cấp ma trận
- HD làm đề theo ma trận
- Tập huấn làm đề theo ma trận
- HD Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực học sinh
- Cách hiểu các cấp độ biết, hiểu, vận dụng thấp, VD cao trong môn Ngữ văn
-Các yêu cầu cụ thể đối với các dạng đề:
+Đọc hiểu văn bản
+Viết đoạn văn
+Viết bài văn
4.Chia sẻ qua mail:
1. Thư mục đề thi HK1 2016-2017 của gần 200 trường THPT
Tải về Đề thi HK1
 2.Thư mục HD của BGD: các hướng dẫn, công văn pháp lý do BGD ban hành liên quan đến dạy - học -Kiểm tra -Thi quốc gia trong môn Ngữ văn (tải về)
https://drive.google.com/drive/folders/0B_-9imCVMc3DcXBYb1BKX2t6X0U
Cách thức chia sẻ:
- Thầy Thành mail gửi đến 8 thành viên HĐBM,
- Các TTCM ghi địa chỉ mail chỗ thành viên HĐBM để được chuyển tiếp các tư liệu liên quan.
-Nhấp vào line để tải tài liêu về.



Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

SGD-HCM hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2016-2017

Tải về: HD của SGD
https://drive.google.com/drive/folders/0B2hNoKExLcRgZ0FBaGc1Vk92UE0
-------------
HD của tổ chuyên môn
BB họp tổ Văn đầu năm học 2016-2017 ( tháng 9/2016)

Lúc 08g ngày 01/9/2016 tại Phòng GV (sau tổng dợt KG)

HD: 16/16 Vắng:00 
Nội dung:
1. Thống nhất Kế hoạch năm học 2016-2017 Tổ Ngữ văn theo mẫu SGD
2. Hướng dẫn GV lập Kế hoạch dạy học (theo mẫu SGD- HD của Trường VTS và tổ chuyên môn)
3. Hoàn thiện kế hoạch giảng dạy Tổ, Nhóm chuyên môn.
4. Tiếp tục bồi dưỡng Đổi mới SH Tổ, Nhóm CM qua mạng (Làm việc Nhóm qua Blog, qua Driver).
Trước 15/9 các GV hoàn thành 3 biểu mẫu trên drive theo các đường line:
-  Hoàn thiện Phân công giảng dạy HK1 (TKB áp dụng từ 5/9/2016)
- Hoàn thiện đăng ký Kế hoạch BDTX ( phải chọn 4 trong 41modunl của BGD) 
- Đăng ký thi đua và tên các đề tài SKKN của GV giỏi, CSTĐCS 
- Đề tài hướng dẫn HS tham gia NCKH, Thi tích hợp liên môn, Thi UDCNTT trong năm 2016-2017
5. Hoàn chỉnh đề cương 10-11-12 (2016-2017): K12, K11, K10
6. Thống nhất nội dung bài viết số 1:K10-11-12.
7. Triển khai nhiệm vụ năm học mới của Phong GDTrH-SGD về nội hàm và cách ra đề theo các cấp độ 
năng lực và thống nhất ma trận đề tại VTS (Bài hệ số 1,2,3)
8. Lưu ý-Rút kinh nghiệm

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Văn bản BGD hướng dẫn về Đọc hiểu và tạo lập văn bản


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số: 1933/BGDĐT-GDTrH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
   Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2014


Tệp đính kèm: http://thi.moet.edu.vn/images/doc.gif 1933GDTrH.doc ngày 15/4/2014

Kính gửi: - Các Sở Giáo dục và Đào tạo;
                                     - Các trường Trung học phổ thông trực thuộc.
Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã gửi Công văn số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014, trong đó có nội dung "Đề thi môn Ngữ văn có 2 phần: đọc hiểu và làm văn".
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc... Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”. Tại công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 8 năm 2013 Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học sinh; Đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”. Vừa qua, Bộ GDĐT đã tổ chức diễn đàn trao đổi trên báo Giáo dục - Thời đại và tiến hành Hội thảo nhằm đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá sẽ được tiến hành theo một lộ trình từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, từ hẹp đến rộng, từ kiến thức của một vài môn đến tổng hợp liên môn, nhiều lĩnh vực..., tiếp cận dần đến việc đổi mới hoàn toàn theo chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015.
Trước mắt, để kịp thời giúp giáo viên, học sinh ôn thi tốt môn học này cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014 như tinh thần Công văn số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD, Bộ GDĐT đề nghị các sở GDĐT, các trường THPT lưu ý một số nội dung sau đây:
1. Việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT năm 2014 thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Đề thi gồm hai phần: đọc hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu.
2. Cách thức ôn tập, kiểm tra kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng viết như sau:
- Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh.
Các câu hỏi phần đọc hiểu tập trung vào một số khía cạnh như:
+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản;
+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản;
+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng.
- Để làm tốt phần thi viết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết vận dụng những kĩ năng viết đã học để tạo lập văn bản về một đề tài xã hội hoặc/và tác phẩm, trích đoạn văn học nào đó theo hướng mở và tích hợp trong môn và liên môn, tập trung vào một số khía cạnh như:
+ Tri thức về văn bản viết (kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản, quá trình viết), nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề văn;
+ Các kĩ năng viết (đúng chính tả; ngữ pháp, viết theo phong cách ngôn ngữ viết, sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong bài viết; lập dàn ý và phát triển ý; bộc lộ quan điểm, tư duy một cách độc lập…);
+ Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng, hoàn cảnh của các tình huống khác nhau (vận dụng vào thực tiễn học tập và đời sống).
- Về viết nghị luận văn học, năm 2014 vẫn sử dụng ngữ liệu là tác phẩm hoặc trích đoạn nêu trong chương trình và sách giáo khoa nhưng cần đổi mới cách hỏi, cách nêu vấn đề nhằm khắc phục hiện tượng học tủ, học thuộc văn mẫu, sao chép nguyên si tài liệu. Bài viết của học sinh được đánh giá dựa vào chuẩn kĩ năng viết nói chung và chuẩn kĩ năng viết kiểu văn bản nói riêng mà đề bài yêu cầu, phù hợp với các giá trị nhân văn, những chuẩn mực đạo đức và pháp luật; không áp đặt nội dung chi tiết cần đạt.
Nhận được công văn này, đề nghị các Sở GDĐT, các trường THPT trực thuộc triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời đến giáo viên và học sinh./.
---------------
Các hướng dẫn liên quan đến phần Đọc hiểu và tạo lập văn bản vẫn có thể áp dụng trong kỳ thi THPT Quốc gia từ 2014


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

BGD đưa ra dự thảo và hướng dẫn đánh giá xếp loại giờ dạy của GV Trung học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
             DỰ THẢO
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI GIỜ DẠY GIÁO VIÊN TRUNG HỌC
(Kèm theo công văn số           /BGDĐT-GDTrH ngày .... tháng... năm 201…
của Bộ GDĐT)
I. MỤC ĐÍCH
- Giúp giáo viên trung học tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ;
- Góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn thông qua dự giờ, phân tích và nghiên cứu bài học;
- Giúp cho các cấp quản lí giáo dục làm căn cứ để đánh giá, xếp loại giáo viên, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên.
II. YÊU CẦU
- Tự đánh giá và đánh giá xếp loại giờ dạy giáo viên dựa trên các thành tố cơ bản, cốt lõi của quá trình dạy học và được đánh giá trên 5 phương diện: (1) chuẩn bị bài học; (2) nội dung bài học; (3) phương pháp và kĩ thuật dạy học; (4) hoạt động học của học sinh; (5) kết quả bài học. Mỗi phương diện đánh giá bao gồm các tiêu chí đánh giá và được quy định cụ thể ở Phiếu đánh giá giờ dạy (mục III.1).
- Việc đánh giá và tự đánh giá xếp loại giờ dạy của giáo viên phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, toàn diện, khoa học, dân chủ và công bằng; phản ánh đúng năng lực nghề nghiệp của giáo viên trong điều kiện cụ thể của nhà trường, địa phương và đối tượng học sinh.
- Để tìm minh chứng cho các tiêu chí đánh giá giờ dạy, người đánh giá phải quan sát các hoạt động học của học sinh, kết hợp với ghi chép, đánh giá giáo án, trao đổi với giáo viên dạy và các đồng nghiệp tham gia dự giờ và có thể kiểm tra ngắn đối với học sinh. Cách xác định mức độ đánh giá và tìm minh chứng cho các tiêu chí đánh giá giờ dạy tham khảo ở phần phụ lục kèm theo hướng dẫn này.
- Đánh giá giờ dạy cần tính đến sự phù hợp với đặc điểm riêng của môn học, loại bài lên lớp và hình thức tổ chức dạy học. Việc đánh giá, xếp loại giờ dạy giáo viên chỉ thực hiện khi giáo viên có nhu cầu đánh giá, xếp loại để được tư vấn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ hoặc khi các cơ quan quản lí giáo dục đánh giá xếp loại giáo viên nhằm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên.




III. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI GIỜ DẠY
1. Phiếu đánh giá
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI GIỜ DẠY
Họ và tên người dạy:..............................................................................................................
Môn: ............................Tên bài học:......................................................................................
Trường: ...................................................................................................Lớp:......................
Họ và tên người dự giờ: ..........................................................Chuyên môn: .......................
Đơn vị công tác: ...................................................................................................................
          1.1. Tiêu chí đánh giá


Nội dung
Tiêu chí
Mức độ đạt được (điểm)
1
2
3
4
5
Chuẩn bị bài học
(15đ)
1.1. Xác định được mục tiêu bài học.
1.2. Giáo án thể hiện rõ các hoạt động của giáo viên và học sinh.
1.3. Thiết bị/tài liệu phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học.






Nội dung
bài học (20đ)
2.1. Đảm bảo tính đúng, lôgic biện chứng, khoa học.
2.2. Cơ bản có trọng tâm và phù hợp với khả năng  học của mọi học sinh.
2.3. Liên hệ với thực tế, cập nhật kiến thức và thấy được mối quan hệ với nhiều môn học khác (liên môn).
2.4. Tích hợp được các nội dung giáo dục toàn diện.





Phương pháp và kĩ thuật dạy học (20đ)

3.1. Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học tối ưu.
3.2. Sử dụng thiết bị/tài liệu dạy học hợp lý, hiệu quả.
3.3.  Thu thập và xử lí được thông tin phản hồi từ học sinh.
3.4. Linh hoạt các tình huống sư phạm, xây dựng môi trường học tập thân thiện.






Hoạt động học của học sinh (30đ)
4.1. Học sinh được hướng dẫn chủ động trong các hoạt động học tập.
4.2. Tổ chức được các mối quan hệ tương tác trong lớp học.
4.3. Học sinh được hướng dẫn và kích thích khả năng tự học.
4.4. Học sinh được tích cực hóa hoạt động tư duy trong học tập.
4.5. Học sinh được đánh giá và sửa chữa những sai sót khi học bài.
4.6. Đảm bảo thời gian, phân bố thời gian hợp lí cho các hoạt động.





Kết quả bài học
 (15đ)
5.1. Học sinh có nhận thức tốt đáp ứng yêu cầu mục tiêu bài học.
5.2. Học sinh có khả năng và biết vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế.
5.3. Học sinh tự tin, tích cực tương tác trong học tập.






Cộng





                                   Điểm tổng cộng:
           /100
           



1.2. Đánh giá chung
- Giáo viên dạy tự nhận xét:
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
- Người dự giờ nhận xét:
Những thành công của giờ dạy (nội dung, phương pháp và kĩ thuật dạy học, hoạt động học của học sinh,...):
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Những hạn chế của tiết học cần lưu ý (nội dung, phương pháp và kĩ thuật dạy học, hoạt động học của học sinh,...):
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
1.3. Xếp loại giờ dạy: ....................................................................................................
............................., ngày  ..... tháng ......năm ............
                                                                                         Người đánh giá
                                                                                        (kí và ghi họ tên)
2. Hướng dẫn xếp loại giờ dạy
- Có 5 phương diện đánh giá, với 20 tiêu chí làm cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại giờ dạy. Mỗi tiêu chí, khi đánh giá được chia làm 5 mức độ từ thấp đến cao: 1, 2, 3, 4, 5. Mỗi mức độ liền kề chênh nhau 1,0 điểm. Cụ thể là:
+ Mức độ 5: (5 điểm) mức độ này phải đạt đầy đủ các yêu cầu của tiêu chí và phải có đầy đủ minh chứng để công nhận.
+ Mức độ 4: (4 điểm) mức độ này phải đạt hầu hết các yêu cầu của tiêu chí và có những minh chứng cốt lõi để công nhận (Chọn lựa mức 4 khi có đủ minh chứng vượt quá mức 3 nhưng chưa đủ để công nhận ở mức 5).
+ Mức độ 3: (3 điểm) mức độ này phải đạt ít nhất 50% các yêu cầu của tiêu chí và có minh chứng rõ ràng để công nhận.
+ Mức độ 2: (2 điểm) mức độ này chỉ đạt một phần các yêu cầu của tiêu chí và có ít minh chứng để công nhận (Chọn lựa mức 2 khi có đủ minh chứng vượt quá mức 1 nhưng chưa đủ để công nhận mức ở 3).
+ Mức độ 1: (1 điểm) mức độ này hoàn toàn chưa đạt hoặc đạt được rất ít các yêu cầu của tiêu chí và chưa có minh chứng để công nhận.
- Xếp loại giờ dạy:
+ Loại giỏi: Điểm tổng cộng đạt từ 80 điểm trở lên và không có tiêu chí đạt dưới mức độ 3;
+ Loại khá: Điểm tổng cộng đạt từ 65 đến dưới 80 điểm và không có tiêu chí đạt dưới mức độ 3;
+ Loại trung bình: Điểm tổng cộng đạt từ 50 điểm đến dưới 65 điểm;
+ Chưa đạt yêu cầu: Điểm tổng cộng dưới 50 điểm;
+ Trường hợp giờ dạy có nhiều giáo viên đánh giá, điểm trung bình của giờ dạy có thể để điểm lẻ làm tròn đến 0,5đ. Khi xếp loại giờ dạy: Loại giỏi điểm tổng cộng trung bình đạt 80 điểm trở lên và 2/3 tổng số tiêu chí đạt từ mức 3 trở lên; Loại khá điểm tổng cộng trung bình đạt từ 65 đến dưới 80 điểm và 1/2 tổng số tiêu chí đạt từ mức 3 trở lên; Loại trung bình và chưa đạt yêu cầu được xếp loại như trên.
* Lưu ý: trường hợp đủ điểm, nhưng không đủ các điều kiện xếp loại thì được xếp ở loại dưới liền kề.


































PHỤ LỤC
Minh chứng cho các mức độ đánh giá giờ dạy
Dưới đây là các gợi ý, trên cơ sở đó xác định minh chứng cho các mức độ đánh giá của mỗi tiêu chí: mức độ 5, mức độ 3 và mức độ 1. Các mức độ 2 và mức độ 4 của mỗi tiêu chí giáo viên chủ động xác định. Khi tìm minh chứng cho các mức độ đánh giá của mỗi tiêu chí người đánh giá cần vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, địa phương, đối tượng học sinh, đặc điểm của môn học, loại bài lên lớp và hình thức tổ chức dạy học.
1. Chuẩn bị bài học
1.1. Xác định được mục tiêu bài học
Mức độ 5: Xác định được mục tiêu của bài học theo chương trình giáo dục phổ thông. Các mức độ về kiến thức, kỹ năng và định hướng thái độ được thể hiện cụ thể, tường minh, phù hợp với đối tượng học sinh. Sử dụng các động từ có thể quan sát và đo lường được để viết các mục tiêu bài học.
Mức độ 3: Xác định được mục tiêu bài học theo chương trình giáo dục phổ thông, phù hợp với đối tượng học sinh. Sử dụng các động từ có thể quan sát và đo lường được khi viết các mục tiêu bài học. Tuy nhiên, các mức độ về kiến thức, kỹ năng và định hướng thái độ được thể hiện chưa cụ thể, thiếu tường minh.
Mức độ 1: Xác định mục tiêu bài học không theo chương trình giáo dục phổ thông hoặc thiếu những mục tiêu quan trọng. Sử dụng các động từ không quan sát và đo lường được để viết các mục tiêu bài học.
1.2. Giáo án thể hiện rõ các hoạt động của giáo viên và học sinh
Mức độ 5: Giáo án thể hiện rõ tiến trình các hoạt động của giáo viên và học sinh, dự kiến sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung bài học, điều kiện của địa phương, dự kiến được thời gian cho các hoạt động.
Mức độ 3: Giáo án thể hiện được tiến trình các hoạt động của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, dự kiến lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị dạy học chưa thật phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương.
Mức độ 1: Giáo án thể hiện tiến trình các hoạt động của giáo viên và học sinh chưa rõ; chưa dự kiến được thời gian cho các hoạt động; dự kiến lựa chọn các phương pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp với nội dung dạy học và điều kiện của địa phương.
1.2. Thiết bị /tài liệu phù hợp với mục tiêu và nội dung bài học
Mức độ 5: Chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT) phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học. Khuyến khích việc cải tiến phương tiện dạy học hoặc sáng tạo những phương tiện dạy học mới.
Mức độ 3: Có chuẩn bị thiết bị/tài liệu (bao gồm cả thiết bị tự học, ứng dụng CNTT), song chưa thật phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học, chưa biết cải tiến phương tiện dạy học.
Mức độ 1: Không chuẩn bị thiết bị/tài liệu hoặc có nhưng cẩu thả, không phù hợp với nội dung bài học.
2. Nội dung giờ dạy
2.1. Đảm bảo tính đúng, lôgic biện chứng, khoa học
Mức độ 5: Đảm bảo tính đúng về: các khái niệm, thuật ngữ khoa học; các đơn vị kiến thức, kĩ năng được sắp xếp lôgic biện chứng và khoa học.
Mức độ 3: Đảm bảo tính đúngvề: các khái niệm, thuật ngữ khoa học. Tuy nhiên, việc sắp xếp các đơn vị kiến thức, kĩ năng chưa thật lôgic biện chứng và khoa học.
Mức độ 1: Các khái niệm, thuật ngữ khoa học có nội dung chưa đúng. Các đơn vị kiến thức, kĩ năng được sắp xếp chưa lôgic, khoa học.
  2.2. Cơ bản có trọng tâm và phù hợp với khả năng học của mọi học sinh
Mức độ 5: Xác định được kiến thức trọng tâm của bài học. Nội dung bài học đảm bảo mức độ phân hoá theo trình độ học sinh trong lớp học: nội dung kiến thức, kĩ năng chuẩn; nội dung kiến thức, kĩ năng phù hợp với học sinh yếu; nội dung kiến thức, kĩ năng nâng cao dành cho đối tượng học khá, giỏi.
Mức độ 3: Xác định được kiến thức trọng tâm của bài học. Tuy nhiên, nội dung kiến thức, kĩ năng dành cho các đối tượng: học sinh yếu, học sinh khá giỏi trong lớp học được xác định chưa rõ ràng.
Mức độ 1: Chưa xác định được kiến thức trọng tâm của bài học. Không có sự phân hóa các nội dung kiến thức, kĩ năng dành cho các đối tượng học sinh khác nhau trong lớp học.
     2.3. Liên hệ với thực tế, cập nhật kiến thức và thấy được mối quan hệ với nhiều môn học khác (liên môn)
Mức độ 5: Nội dung kiến thức của bài học được cập nhật, đảm bảo tính hiện đại, thời sự và các ví dụ xuất phát từ thực tế cuộc sống. Khai thác được nội dung bài học để liên hệ, ứng dụng vào thực tế cuộc sống. Phát hiện và khai thác được các mối quan hệ về kiến thức, kĩ năng với các môn học khác (liên môn).
Mức độ 3: Nội dung kiến thức của bài học được cập nhật. Tuy nhiên chưa đảm bảo được tính hiện đại, thời sự. Biết khai thác nội dung bài học liên hệ, ứng dụng trong thực tế cuộc sống, song các liên hệ chưa thật tiêu biểu. Chưa phát hiện được các mối quan hệ về kiến thức, kĩ năng với các môn học khác.
Mức độ 1: Nội dung kiến thức chưa được cập nhật, chưa biết liên hệ kiến thức của bài học với thực tế cuộc sống. Chưa phát hiện được các mối quan hệ về kiến thức, kĩ năng với các môn học khác.
2.4. Tích hợp được các nội dung giáo dục toàn diện
Mức độ 5: Nội dung kiến thức được tích hợp với các vấn đề: giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo dục pháp luật, dân số, bảo vệ môi trường, kĩ năng sống,...một cách hợp lý. Các ví dụ, câu chuyện, bài học đạo đức, giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, nuôi dưỡng hứng thú, tạo niềm tin,…có sức hấp dẫn học sinh.
Mức độ 3: Nội dung kiến thức được tích hợp với các vấn đề: giáo dục tư tưởng, đạo đức, giáo dục pháp luật, dân số, môi trường, kĩ năng sống,...song chưa thật tiêu biểu. Có lồng ghép các nội dung giáo dục đạo đức, giá trị, kỹ năng sống,… nhưng chưa thực sự hấp dẫn học sinh.
Mức độ 1: Nội dung kiến thức khô khan, thuần kiến thức môn học, không được lồng ghép các nội dung giáo dục toàn diện.
3. Phương pháp và kĩ thuật dạy học
3.1. Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học tối ưu
Mức độ 5: Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học tối ưu, tích cực, phù hợp với đặc trưng môn học, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểu bài lên lớp và đối tượng học sinh, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh.
Mức độ 3: Lựa chọn được phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp với đặc trưng môn học, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểu bài lên lớp. Tuy nhiên, các phương pháp và kĩ thuật dạy học được lựa chọn chưa phù hợp với mọi đối tượng học sinh, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh.
Mức độ 1: Lựa chọn phương pháp và kỹ thuật dạy học chưa phù hợp với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học và kiểu bài lên lớp. Chưa phát huy được tính tích cực, chủ động học tập của học sinh.
3.2. Sử dụng thiết bị/tài liệu dạy học hợp lý, hiệu quả
Mức độ 5: Thiết bị dạy học và tài liệu (kể cả thiết bị cải tiến và thiết bị dạy học tự làm, sách giáo khoa và các tài liệu khác) được giáo viên và học sinh khai thác hiệu quả, sử dụng an toàn. Học sinh được tạo điều kiện thao tác trên thiết bị, tài liệu học tập và có tác động rõ rệt đến chất lượng giờ dạy.
Mức độ 3: Thiết bị dạy học và tài liệu được giáo viên và học sinh khai thác, sử dụng trong quá trình học tập. Tuy nhiên, chưa thật hiệu quả; mức độ thao tác của học sinh trên thiết bị dạy học và tài liệu học tập còn mang tính hình thức.
Mức độ 1: Không sử dụng thiết bị, tài liệu dạy học, hoặc sử dụng chưa hợp lý, kém hiệu quả. Học sinh không được thao tác trên các thiết bị, tài liệu dạy học.
3.3. Thu thập được thông tin phản hồi từ học sinh
Mức độ 5: Biết sử dụng các phương pháp và hình thức để thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh (thông qua cử chỉ, hành vi, nét mặt, thái độ, qua vở ghi bài, câu hỏi phát vấn,…) để từ đó kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học làm tăng hiệu quả của giờ dạy.
Mức độ 3: Giáo viên có sử dụng các phương pháp, hình thức để thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh, song còn hình thức và chưa hiệu quả. Việc sử dụng các thông tin thu thập được để điều chỉnh phương pháp dạy học chưa kịp thời.
Mức độ 1: Chưa biết thu thập thông tin phản hồi về mức độ nhận thức của học sinh để điều chỉnh phương pháp dạy học kịp thời.
3.4. Linh hoạt các tình huống sư phạm, xây dựng môi trường học tập thân thiện
Mức độ 5: Linh hoạt các tình huống sư phạm. Xây dựng được môi trường học tập thân thiện, hợp tác, thuận lợi, an toàn, lôi cuốn được mọi học sinh tham gia vào các hoạt động học tập và thi đua lành mạnh. Tôn trọng các ý kiến của học sinh.
Mức độ 3: Xây dựng được môi trường học tập hợp tác, thân thiện thuận lợi cho học sinh hoạt động. Tuy nhiên, chưa lôi cuốn được toàn bộ học sinh tham gia vào các hoạt động học tập và thi đua. Biết xử lí các tình huống trong giờ học nhưng tính sư phạm chưa rõ.
Mức độ 1: Xử lí các tình huống trong giờ học không hợp lí, thiếu tính sư phạm. Chưa chú ý xây dựng môi trường học tập thân thiện, hợp tác, thuận lợi cho các hoạt động của học sinh.
4. Hoạt động học của học sinh
4.1. Học sinh được hướng dẫn chủ động trong các hoạt động học tập
Mức độ 5: Học sinh được giao nhiệm vụ cụ thể, được hướng dẫn rõ ràng, hầu hết học sinh hiểu và chủ động thực hiện được các nhiệm vụ giáo viên giao.
Mức độ 3: Học sinh được giao nhiệm vụ và hướng dẫn trong các hoạt động học tập. Tuy nhiên, chưa kích thích, phát huy được tính chủ động trong các hoạt động học tập của học sinh.
Mức độ 1: Học sinh không được giao nhiệm vụ cụ thể trong giờ học. Hầu hết học sinh học tập thụ động.
4.2. Tổ chức được các mối quan hệ tương tác trong lớp học
Mức độ 5: Trong quá trình học tập giáo viên tổ chức được các mối quan hệ tương tác giữa: học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với tài liệu học tập diễn ra rất tích cực và hiệu quả.
Mức độ 3: Trong quá trình học tập các mối quan hệ tương tác giữa: học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với tài liệu học tập đã được giáo viên chú ý tổ chức song còn mang tính hình thức và hiệu quả chưa cao.
Mức độ 1: Trong quá trình học tập giáo viên chưa tổ chức được các mối quan hệ tương tác giữa: học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với tài liệu học tập.
4.3. Học sinh được hướng dẫn và kích thích khả năng tự học
Mức độ 5: Trong quá trình học tập học sinh được hướng dẫn tự học, được hỗ trợ để tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức, được tạo cơ hội để tự kiến tạo tri thức trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm riêng của mình mang lại hiệu quả cho tiết học.
Mức độ 3: Trong quá trình học tập học sinh được hướng dẫn tự học, hướng dẫn để tự kiến tạo tri thức trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm riêng của mình, song chưa hiệu quả và chủ yếu chỉ tập trung vào một số đối tượng học sinh.
Mức độ 1: Học sinh chưa được hướng dẫn tự học; trong giờ học kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm riêng của học sinh chưa được phát huy.
4.4. Học sinh được tích cực hóa hoạt động tư duy trong học tập
Mức độ 5: Học sinh được tích cực hóa hoạt động tư duy trong học tập: giáo viên đưa ra được các câu hỏi/bài tập có tính phân hóa phù hợp cho các nhóm học sinh (khá giỏi, trung bình, yếu), kích thích tư duy của học sinh, khích lệ học sinh suy nghĩ, tranh luận, vận dụng xử lý các vấn đề của thực tế.
Mức độ 3: Trong quá trình học tập giáo viên chú ý tích cực hóa hoạt động tư duy của học sinh. Tuy nhiên, chưa mang lại hiệu quả: giáo viên đưa ra các câu hỏi/bài tập có tính phân hóa chưa rõ, chưa kích thích được tư duy của học sinh.
Mức độ 1: Học sinh chưa được tích cực hóa hoạt động tư duy trong học tập: các câu hỏi/bài tập giáo viên đưa ra chỉ đơn thuần là ghi nhớ, học thuộc, không kích thích tư duy của học sinh, không có tính phân hóa.
4.5. Học sinh được đánh giá và sửa chữa những sai sót khi học bài
Mức độ 5: Trong quá trình học tập đa số học sinh được tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau, được uốn nắn kịp thời những sai sót lệch lạc về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi theo hướng tích cực: học sinh cảm nhận không bị áp đặt, được tôn trọng và cảm thấy mình có giá trị.
Mức độ 3: Trong quá trình học tập học sinh được tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau, song chưa có hiệu quả và chỉ tập trung vào một số học sinh. Việc uốn nắn những sai sót lệch lạc về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi đối với một số học sinh còn mang tính hình thức, áp đặt.
Mức độ 1: Trong quá trình học tập học sinh chưa được uốn nắn những sai sót lệch lạc về kiến thức, kĩ năng, thái độ và hành vi, chưa được tạo điều kiện để tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau.
4.6. Đảm bảo thời gian, phân bố thời gian hợp lí cho các hoạt động
Mức độ 5: Đảm bảo thời gian tiết học và phân bố thời gian hợp lí cho các hoạt động. Luôn chủ động, sử dụng thời gian cho từng hoạt động thực sự hợp lý, hiệu quả. Giáo viên dành nhiều thời gian cho hoạt động học của học sinh.
Mức độ 3: Đảm bảo thời gian tiết học. Tuy nhiên, thời gian phân bố cho các hoạt động chưa thật hợp lí, sử dụng thời gian phân bố cho từng hoạt động chưa hiệu quả. Học sinh chưa được dành nhiều thời gian để hoạt động.
Mức độ 1: Không đảm bảo thời gian tiết học. Việc phân bố thời gian cho các hoạt động không hợp lí, sử dụng thời gian phân bố cho các hoạt động kém hiệu quả.
5. Kết quả bài học
5.1. Học sinh có nhận thức tốt đáp ứng yêu cầu mục tiêu bài học
Mức độ 5: Hầu hết học sinh trong lớp đều thể hiện được khả năng hiểu và làm chủ được các kiến thức, hình thành được kĩ năng đáp ứng được mục tiêu bài học, có thái độ tích cực; có khả năng trình bày được kết quả học tập một cách tự tin.
Mức độ 3: Đa số học sinh trong lớp đạt được yêu cầu về kiến thức, hình thành được kỹ năng và thái độ ở mức độ trung bình. Vẫn còn một số học sinh chưa đạt được mục tiêu đặt ra về kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Mức độ 1: Đa số học sinh trong lớp chưa đạt được mục tiêu bài học đã đặt ra về kiến thức, kĩ năng và thái độ.
      5.2. Học sinh có khả năng và biết vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế
Mức độ 5: Hầu hết học sinh có khả năng và biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tế, lấy được các ví dụ liên hệ thực tế. Nhận ra được một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống có liên quan đến nội dung học tập.
Mức độ 3: Ít nhất có khoảng 50% học sinh có khả năng và biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tế. Vẫn còn một bộ phận đáng kể học sinh cảm thấy khó khăn hoặc chưa biết liên hệ thực tế. Chưa nhận ra được các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống có liên quan đến nội dung học tập.
Mức độ 1: Đa số học sinh chưa có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tế. Học sinh không lấy được các ví dụ liên hệ nội dung bài học với thực tế. Chưa nhận ra được các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống có liên quan đến nội dung học tập.
5.3. Học sinh tự tin, tích cực tương tác trong học tập
Mức độ 5: Hầu hết học sinh đều thể hiện hứng thú, sự tự tin và chủ động tích cực tương tác và hỗ trợ nhau trong quá trình học tập.
Mức độ 3: Ít nhất có khoảng 50% học sinh thể hiện hứng thú, sự tự tin và tích cực tương tác, hỗ trợ nhau trong quá trình học tập.

Mức độ 1: Đa số học sinh làm việc thụ động một chiều (nghe giảng và ghi chép thuần túy).