Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2018

CÁCH VIẾT MỞ BÀI MÔN VĂN HAY VÀ ĐÚNG

CÁCH VIẾT MỞ BÀI MÔN VĂN LẤY LÒNG GIÁM KHẢO CHẤM THI

Đối với đề bài dài, vấn đề được gửi gắm trong một mẩu truyện, bài thơ, hoặc trích đoạn bài báo… thì phần mở bài học sinh không nên trích dẫn toàn bộ ngữ liệu mà phải phân tích kỹ để khái quát nên vấn đề cần giải quyết trong 1-2 câu văn ngắn gọn.

 

Mở bài không chỉ có ý nghĩa đảm bảo cho bài văn có một cấu trúc hoàn chỉnh mà còn có nhiều ý nghĩa khác. Một mở bài ngắn gọn, súc tích, gọi tên được vấn đề và có sức lôi cuốn không chỉ tạo tiền đề cho người viết triển khai mạch văn một cách dễ dàng mà còn tạo được ấn tượng tốt đẹp đối với người chấm.
Vậy làm thế nào để có một mở bài đáp ứng được những tiêu chí trên?
Nhiệm vụ của một mở bài là đặt vấn đề/nêu vấn đề mà bài văn cần phải xử lý/giải quyết. Hiểu được như thế đồng nghĩa với việc dù ta có chọn cách mở bài nào đi chăng nữa cũng không được xa rời nhiệm vụ của mở bài. Thực tế chấm thi, không ít học sinh mở bài rất dài, rất hay, rất lôi cuốn nhưng không có điểm vì không nêu được vấn đề cho bài văn.Trước khi mở bài hay, cần mở bài đúng
Sau khi xác định được nhiệm vụ của mở bài, bước tiếp theo là phải làm thế nào để nhiệm vụ đó được triển khai một cách hoàn hảo nhất. Nên nêu vấn đề một cách gián tiếp hay trực tiếp, đơn giản hay kỳ công… là một câu hỏi lớn.
Nếu mở bài chỉ xác định được vấn đề cần giải quyết và nêu trúng vấn đề đó thì mới đảm bảo được tiêu chí đúng và trúng mà chưa thỏa mãn được tiêu chí hay và hấp dẫn.
Hiện nay hầu hết học sinh khi viết mở bài chỉ hướng đến thỏa mãn hai tiêu chí đầu. Điều đó khiến cho bài viết hòa lẫn với muôn vàn bài viết khác, không tạo được dấu ấn, không khơi gợi được cảm xúc cho người chấm. Mặt khác, có những học sinh không chấp nhận cách mở bài đơn giản, truyền thống, thường có xu hướng đặt vấn đề một cách mới mẻ, khác lạ, hướng đến cái hay và hấp dẫn để ngay lập tức chinh phục được người chấm. Tuy nhiên, do thiếu kỹ năng và chưa có “điểm dừng” nên đôi khi động cơ tốt đẹp đó lại cho kết quả là những mở bài lan man, không đúng trọng tâm.
Nên có cách mở bài riêng, phù hợp với yêu cầu của đề bài
Với kiểu bài nghị luận xã hội (thường là nghị luận về một tư tưởng đạo lý hoặc bài học đời sống), cần lưu ý không nên nêu trực tiếp vấn đề mà nên đặt vấn đề đó vào một phạm vi rộng hơn để dẫn dắt.
Chẳng hạn để yêu cầu trình bày suy nghĩ về vấn đề: Văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông thì chúng ta nên mở bài bằng cách nêu lên những vấn đề chung về văn hóa ứng xử hoặc vấn đề chung về lĩnh vực giao thông rồi mới dẫn đến vấn đề trực tiếp.
Hay đề bài yêu cầu bình luận về đức tính trung thực của con người thì chúng ta phải dẫn dắt từ những phẩm chất tốt đẹp của con người nói chung…
Ngoài ra, đối với những đề bài dài, vấn đề được gửi gắm trong một mẩu truyện, bài thơ, hoặc một trích đoạn bài báo… thì ở phần mở bài học sinh không nên trích dẫn toàn bộ ngữ liệu mà phải phân tích kỹ đề bài để khái quát nên vấn đề cần giải quyết trong 1-2 câu văn ngắn gọn. Chẳng hạn đề bài cho chúng ta bài thơ sau và yêu cầu trình bày suy nghĩ:
Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
– Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
– Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
– Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Với đề bài này chúng ta không nên chép lại cả bài thơ mà chỉ cần khái quát nội dung là những bài học về cách ứng xử tốt đẹp trong thế giới tự nhiên và những sự trở về cách ứng xử của con người đối với con người, từ đó chúng ta sẽ có hướng giải quyết vấn đề.
Đối với dạng đề nghị luận văn học, vấn đề mở bài trở nên phong phú hơn bởi chúng ta có nghị luận văn xuôi, nghị luận thơ, nghị luận kịch, ký… và trong mỗi dạng bài nghị luận gắn với thể loại ta lại chia nhỏ hơn. Chẳng hạn, nghị luận thơ chúng ta có nghị luận cả bài; nghị luận một đoạn hay so sánh đoạn này với đoạn khác… Nghị luận văn xuôi ta có nghị luận về đoạn văn, về nhân vật, về chi tiết…
Ở đây căn cứ vào mức độ phổ biến, chúng ta chỉ bàn đến cách mở bài gián tiếp cho hai dạng bàim đó là nghị luận thơ và nghị luận văn xuôi. Trong hai dạng bài này chúng ta lại dành sự quan tâm đặc biệt cho kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ/đoạn văn và nghị luận so sánh hai đoạn thơ/đoạn văn/nhân vật.
Với dạng đề nghị luận về một đoạn thơ/đoạn văn, cách mở bài gián tiếp về cơ bản gần giống như mở bài nghị luận về một tác phẩm, đó là: Dẫn dắt từ đề tài, chủ đề; sau đó đến tác phẩm (khẳng định đó là tác phẩm tiêu biểu của tác giả nói chung và giai đoạn/phong trào nói riêng, hoặc khẳng định nét riêng của tác phẩm); tiếp đến là dẫn đến đoạn thơ/đoạn văn được phân tích (khẳng định đó là phần thể hiện nổi bật giá trị nội dung tư tưởng và những thành công đặc sắc về mặt nghệ thuật…”.
Ví dụ: Đề bài yêu cầu cảm nhận 9 câu thơ đầu trong bài Đất nước, ta có thể tham khảo mở bài sau:
“Đất Nước” từ lâu đã là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hứng về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu. (trích thơ)
Với dạng đề so sánh 2 đoạn thơ/đoạn văn/nhân vật/chi tiết… thì phần mở bài lại đặt ra nhiều thách thức hơn. Nếu học sinh chọn cách dẫn dắt từng tác giả, tác phẩm thì mở bài sẽ dài và đơn điệu. Nếu học sinh đi tìm điểm chung về đề tài, chủ đề, cảm hứng… của 2 đối tượng rồi dẫn trực tiếp vào từng đối tượng thì mở bài sẽ hay và hấp dẫn nhưng lại khó.
Ví dụ: So sánh Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, chúng ta có thể tham khảo dàn ý sau:
Trải suốt chiều dài lịch sử văn học, hình tượng đất nước đã bắt nhịp trái tim của không biết bao nhiêu nghệ sĩ để đi vào thơ với vẻ đẹp thiêng liêng và niềm tin yêu sâu sắc. Hồn thiêng đất nước, tinh thần dân tộc hào hùng được bắt nguồn từ “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”… tiếp nối bền vững qua mỗi thời kỳ. “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm gặp gỡ nhau ở đề tài ấy. Hai đoạn thơ tiêu biểu ở hai bài thơ đã góp phần thể hiện rõ….
Trước khi mở bài hay, hãy biết cách mở bài đúng. Đầu tư thời gian hợp lý để viết một mở bài đúng, hay là cách “lấy lòng” người chấm bài, giúp bài thi phần nào được ưu ái và cho điểm cao hơn.
Thầy Đặng Ngọc Khương
Giáo viên THPT Chuyên Ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Đề văn "hại não" ở Giarai

I.                  Đọc hiểu (2 điểm)
 “Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện khi có tương tác, ít ra là hai vật thể tạo lửa. Lửa là kết quả của số nhiều. Cô bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết vì thiếu lửa. Để rồi từ đó loài người đã cảnh giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh để cho không còn em bé bán diêm nào phải chết vì thiếu lửa?
Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ là con giun, con rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì có “sốt” sắng, “nhiệt” tình, đuối tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng! Sẽ đâu rồi “lửa” yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi vai lạnh lẽo, ơ hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh? Em... sống đời thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ.... Cho nên: Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”
(Nhà văn Đoàn Lê Công Huy,Trích Thắp mình để sang xuân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích (0,25 điểm)
Câu 2: Trong đoạn trích trên tác giả sử dụng thao tác lập luận nào (0,25 điểm)
Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn trích (0,5 điểm)
Câu 4: Viết 1 đoạn văn ngắn (khoảng 5 - 7 dòng) thể hiện sự cần thiết của việc “nuôi lửa” ở lứa tuổi học sinh (1 điểm)
-----------------------
http://dantri.com.vn/su-kien/tranh-cai-quanh-de-thi-van-hai-nao-2016050912282362.htm
Đề thi HK2-Giarai




Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Giúp học sinh nhận biết, sử dụng hiệu quả phép tu từ nhân hóa

GD&TĐ - Vì là nội dung mới nên việc nhận biết và sử dụng hiệu quả phép tu từ nhân hóa là mội nội dung khó với học sinh lớp 3.

Chỉ ra hạn chế trong việc dạy học nội dung này, cô Phạm Thị Thu Hương - Giáo viên Trường tiểu học Hồ Tùng Mậu (Nam Định) – cho biết:
Nhiều học sinh lúng túng trong việc nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa. Mặt khác, do khả năng nhận thức mới ở mức độ đơn giản nên các em cảm nhận biện pháp tu từ này chưa tốt. Bản thân giáo viên, cũng lúng túng khi dạy học nội dung này.
Để khắc phục tình trạng trên, cô Phạm Thị Thu Hương cho rằng, trước hết, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân hóa, cũng như tác dụng của biện pháp tu từ này.
Sau khi khái quát và củng cố cũng như khắc sâu kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa, giáo viên cần cho học sinh nắm vững và vận dụng ở các dạng phù hợp.
Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân hóa
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người.
Ngoài nội dung cơ bản trên, theo cô Hương, giao viêncó thể nói thêm: Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người. Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hóa, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình
Nhân hóa là gọi hoặc tả về tính nết, hoạt động con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi và tả người.
Về các cách nhân hóa, với nội dung dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật, trước hết giáo viên cho học sinh tập hợp những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân thuộc của con người như ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, thím, cậu, mợ, …
Sau đó, hướng dẫn học sinh nhận biết những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân thuộc của con người trong nhóm trên khi đi với một danh từ chỉ con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên thì con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên đó đã được nhân hóa.
Vơi cách dùng những từ vốn chỉ hoạt động, đặc điểm của người để chỉ hoạt động,đặc điểm của vật, giáo viên cho học sinh tập hợp những động từ chỉ hoạt động của con người, tập hợp những tính từ chỉ tính chất, trạng thái của con người; hướng dẫn học sinh những từ chỉ hoạt động, đặc điểm của con người được gán cho đối tượng không phải là người thì đối tượng đó đã được nhân hóa.
Ngoài ra, còn có cách nhận hóa: Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người; các nhân vật, sự vật tự xưng.
Khắc sâu lý thuyết bằng các dạng bài tập phù hợp
Sau khi khái quát và củng cố cũng như khắc sâu kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa, cô Hương cho rằng, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững và vận dụng ở các dạng bài tập sau:
Bài tập nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa: Hình thức của dạng bài tập này thường là nêu ngữ liệu qua đoạn văn, câu thơ, câu văn... trong đó có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, từ đó hiểu được nhân hóa là gì.
Dạng bài tập này có thể chia thành các bài tập nhỏ: Nhận diện (tìm) sự vật nhân hóa; tìm từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hóa.
Dạng bài tập suy luận, phân tích: Đây là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, luôn sáng tạo cho học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của biện pháp nhân hóa.
Dạng bài tập tạo lời: Với nội dung này, tạo lời không chỉ yêu cầu đúng mà còn yêu cầu hay. Để làm được điều đó ngoài việc nắm được thế nào là nhân hóa, các cách nhân hóa, học sing còn phải hiểu tác dụng của biện pháp nhân hóa, đòi hỏi người thực hiện phải hiểu biết rất nhiều về sự vật trong thế giới xung quanh.
Do đó có thể hiểu “tạo lời” là một hoạt động thể hiện rõ nhất tính tích cực trong nhận thức của học sinh. Bởi tính phức tạp của nó nên bài tập “tạo lời” về nội dung nhân hóa được cấu tạo đơn giản, dể hiểu và có số lượng không nhiều.
Loại này phân thành các dạng nhỏ sau: Tìm những từ ngữ chỉ người, chỉ đặc điểm, dấu hiệu của con người, điền vào chỗ trống cho thích hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hóa; Sử dụng biện pháp nhân hóa để diễn đạt lại những câu văn cho sinh động, gợi cảm; tập viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa.
3 bước tổ chức dạy học các dạng bài tập về tu từ nhân hóa.
Cô Hương cho biết, tổ chức dạy học các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa ở lớp 3 thông thường được thực hiện theo các trình tự:
Bước 1: Nhận diện bài tập. Một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập, cả lớp vừa nghe vừa theo dõi bài tập trong sách giáo khoa để nhận diện ra hình ảnh nhân hóa, sự vật nhân hóa có trong câu văn, câu thơ.
Bước 2: Phân tích bài tập. Sau khi đã nhận ra hiện tượng hình ảnh nhân hóa có chứa trong câu văn câu thơ, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích một trường hợp để tìm ra các yêu cầu của bài tập.
Bước 3: Hướng dẫn bài làm. Học sinh sau khi đã tìm ra được dạng bài thì tự phân tích để hiểu bài tập rồi trình bày bài làm theo ý hiểu của mỗi học sinh.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh nhận xét đánh giá kết quả của bài tập để các em nhớ lại một lần nữa kiến thức đã học. Để học sinh có thể tự đánh giá, giáo viên cần nêu các tiêu chuẩn để yêu cầu từng học sinh đánh giá bài mình hoặc bài của bạn theo chuẩn đã nêu…
Một số lưu ý quan trọng
Biện pháp tu từ nhân hóa không chỉ được dạy ở các bài trong phân môn Luyện từ và câu mà phải dạy khi học các môn khác có nội dung nhân hóa, trong cả giao tiếp thông thường. Phân môn thích hơp để tích hợp nội dung này là Tập đọc, Tập làm văn…
Tuy nhiên, cô Phạm Thị Thu Hương lưu ý, để việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp nhân hóa cho học ính đạt kết quả cao, giáo viên cần thường xuyên hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp nhân hóa trong đặt câu, viết đoạn văn để dần dần nâng cao thành sử dụng một cách linh hoạt biện pháp này trong các bài văn miêu tả.
Khi chấm bài , giáo viên nên đọc và chữa lỗi một cách tỉ mỉ, cần gợi ý, hướng dẫn, gợi mở nhiều cách viết để học sinh lựa chọn cách viết phù hợp; hoặc lựa chọn những hình ảnh phù hợp trong câu văn, đoạn văn để học sinh khắc sâu hơn về cách sử dụng biện pháp này trong phân môn Luyện từ và câu.
Để học sinh hứng thú với việc học luyện từ và câu, bên cạnh đưa ra các dạng bài tập phong phú, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh, giáo viên cũng cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, hấp dẫn, lôi cuốn để phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập.
Hải Bình (ghi)

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Văn bản BGD hướng dẫn về Đọc hiểu và tạo lập văn bản


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số: 1933/BGDĐT-GDTrH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
   Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2014


Tệp đính kèm: http://thi.moet.edu.vn/images/doc.gif 1933GDTrH.doc ngày 15/4/2014

Kính gửi: - Các Sở Giáo dục và Đào tạo;
                                     - Các trường Trung học phổ thông trực thuộc.
Ngày 01/4/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã gửi Công văn số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD về việc hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2014, trong đó có nội dung "Đề thi môn Ngữ văn có 2 phần: đọc hiểu và làm văn".
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc... Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”. Tại công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 8 năm 2013 Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học sinh; Đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”. Vừa qua, Bộ GDĐT đã tổ chức diễn đàn trao đổi trên báo Giáo dục - Thời đại và tiến hành Hội thảo nhằm đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh. Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá sẽ được tiến hành theo một lộ trình từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, từ hẹp đến rộng, từ kiến thức của một vài môn đến tổng hợp liên môn, nhiều lĩnh vực..., tiếp cận dần đến việc đổi mới hoàn toàn theo chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015.
Trước mắt, để kịp thời giúp giáo viên, học sinh ôn thi tốt môn học này cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2014 như tinh thần Công văn số 1656/BGDĐT-KTKĐCLGD, Bộ GDĐT đề nghị các sở GDĐT, các trường THPT lưu ý một số nội dung sau đây:
1. Việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT năm 2014 thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Đề thi gồm hai phần: đọc hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu.
2. Cách thức ôn tập, kiểm tra kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng viết như sau:
- Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh.
Các câu hỏi phần đọc hiểu tập trung vào một số khía cạnh như:
+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản;
+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản;
+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng.
- Để làm tốt phần thi viết, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết vận dụng những kĩ năng viết đã học để tạo lập văn bản về một đề tài xã hội hoặc/và tác phẩm, trích đoạn văn học nào đó theo hướng mở và tích hợp trong môn và liên môn, tập trung vào một số khía cạnh như:
+ Tri thức về văn bản viết (kiểu loại văn bản, cấu trúc văn bản, quá trình viết), nhận thức đúng nhiệm vụ và yêu cầu của đề văn;
+ Các kĩ năng viết (đúng chính tả; ngữ pháp, viết theo phong cách ngôn ngữ viết, sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong bài viết; lập dàn ý và phát triển ý; bộc lộ quan điểm, tư duy một cách độc lập…);
+ Khả năng viết các loại văn bản phù hợp với mục đích, đối tượng, hoàn cảnh của các tình huống khác nhau (vận dụng vào thực tiễn học tập và đời sống).
- Về viết nghị luận văn học, năm 2014 vẫn sử dụng ngữ liệu là tác phẩm hoặc trích đoạn nêu trong chương trình và sách giáo khoa nhưng cần đổi mới cách hỏi, cách nêu vấn đề nhằm khắc phục hiện tượng học tủ, học thuộc văn mẫu, sao chép nguyên si tài liệu. Bài viết của học sinh được đánh giá dựa vào chuẩn kĩ năng viết nói chung và chuẩn kĩ năng viết kiểu văn bản nói riêng mà đề bài yêu cầu, phù hợp với các giá trị nhân văn, những chuẩn mực đạo đức và pháp luật; không áp đặt nội dung chi tiết cần đạt.
Nhận được công văn này, đề nghị các Sở GDĐT, các trường THPT trực thuộc triển khai thực hiện đầy đủ và kịp thời đến giáo viên và học sinh./.
---------------
Các hướng dẫn liên quan đến phần Đọc hiểu và tạo lập văn bản vẫn có thể áp dụng trong kỳ thi THPT Quốc gia từ 2014