Hiển thị các bài đăng có nhãn BP tu từ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BP tu từ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Đọc hiểu văn bản: Lòng yêu nước

Gần đây, những đề thi tự luyện mà cô giáo Trịnh Thu Tuyết đăng trên trang cá nhân đã thu hút đông đảo học sinh quan tâm. Đặc biệt, những câu hỏi đọc – hiểu trong đề thi đều rất hay, đề cập đến những vấn đề thời sự và tác động đến nhận thức của học sinh.
Tiến sĩ Trịnh Thu TuyếtTiến sĩ Trịnh Thu Tuyết
Định kì hàng tuần, cô giáo Trịnh Thu Tuyết (GV Ngữ văn, Hệ thống giáo dục HOCMAI) ra một đề thi hoàn chỉnh để học sinh ôn tập, rèn kĩ năng làm bài. Những câu hỏi đọc – hiểu trong đề thi của cô đề cập đến những vấn đề nhân văn như lòng yêu nước, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mối quan hệ giữa luật pháp và đạo đức con người…
Mới đây nhất, cô Trịnh Thu Tuyết đã dẫn một trích đoạn đã rất quen thuộc với học sinh:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).
1. Anh/chị hãy đặt tên cho đoạn trích.
2. Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.
3. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để thể hiện lòng yêu nước trong câu "Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" ?
4. Với hai cụm động từ "lướt qua... " và " nhấn chìm...", tác giả đã khẳng định điều gì ở lòng yêu nước? Sự khẳng định đó đã được chứng minh như thế nào trong lịch sử giữ nước oanh liệt của dân tộc?
(Trích đề tự luyện số 3, cô Trịnh Thu Tuyết)
Với đề đọc hiểu này, cô Trịnh Thu Tuyết đưa ra một vài gợi ý để học sinh giành trọn 3 điểm.
Câu hỏi đầu tiên với dạng câu hỏi yêu cầu đặt tên cho đoạn, học sinh có thể trả lời bằng nhiều cách. Học sinh có thể tham khảo cách đặt tên của SGK phổ thông như “tinh thần yêu nước của nhân dân ta”. Trả lời đúng ý này, học sinh được 0.25 điểm.
Câu hỏi thứ 2 yêu cầu học sinh chỉ ra phép liên kết. Học sinh chú ý các từ “ấy”, “đó”, “nó” đều được dùng để thay thế cho “lòng nồng nàn yêu nước”. Từ đó, xác định phép liên kết chủ yếu ở đoạn văn là phép thế. Học sinh cần phải nhấn mạnh phép thế này vừa tránh cách diễn đạt lặp lại, vừa thể hiện sự nhấn mạnh đến chủ đề xuyên suốt trong đoạn văn là chủ đề luận về lòng yêu nước. Học sinh không nên gạch đầu dòng mà nên viết thành một đoạn văn ngắn. Trả lời đúng, đủ câu hỏi này, học sinh được 0.25 điểm.
Câu hỏi 3 yêu cầu học sinh chỉ ra biện pháp nghệ thuật trong câu. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ khi ngầm so sánh sức mạnh của lòng yêu nước với “một làn sóng...”. Biện pháp ẩn dụ vừa thể hiện sự mạnh mẽ, cuộn trào của lòng yêu nước vừa thể hiện được đặc điểm liên hồi, ào ạt, dữ dội của lòng yêu nước mỗi khi đất nước có kẻ thù xâm lược. Bên cạnh đó, nhà văn cũng sử dụng phép điệp trong cấu trúc “nó kết thành... nó lướt qua... nó nhấn chìm...” nhằm nhấn mạnh sức mạnh của lòng yêu nước, tạo nên giọng điệu đanh thép, hùng hồn, sự khẳng định một cách quả quyết. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phép liệt kê trong cả ba vế câu nhằm thể hiện tính chất nhấn mạnh đối với vấn đề được nói tới.
Với câu hỏi này, nếu học sinh chỉ đơn thuần chỉ ra những biện pháp nghệ thuật thì sẽ không đạt điểm tối đa, học sinh cần chỉ ra tác đụng của từng biện pháp nghệ thuật thì mới đạt 0.5 điểm.
Ở ý cuối cùng, hai cụm động từ “lướt qua”  và “nhấn chìm”, tác giả đã khẳng định sức mạnh vô địch của lòng yêu nước đã giúp nhân dân ta có thể vượt qua mọi khó khăn để chiến thắng mọi kẻ thù đe dọa chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Học sinh có thể chứng minh bằng những trang sử hào hùng của dân tộc, từ những cuộc chiến chống Tống, Nguyên, Minh, Thanh... tới hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ..., khi chúng ta là một nước nhỏ nhưng chưa hề khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Trả lời trọn vẹn ý này, học sinh đạt 0.5 điểm.
Qua những câu hỏi đọc – hiểu, cô Trịnh Thu Tuyết nhắc nhở, đề thi thường yêu cầu thí sinh vận dụng kiến thức tổng hợp từ tiếng Việt với phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt, phương thức trần thuật, phép liên kết văn bản.... cho đến các kiến thức về văn học sử, kĩ năng cảm thụ, phân tích... để đọc và hiểu một văn bản thơ hoặc văn xuôi.
Với kinh nghiệm nhiều năm nằm trong đội ngũ ra đề và chấm thi đại học, cô Trịnh Thu Tuyết chỉ ra những sai lầm thường gặp khi làm dạng đề này như trả lời sai về kiến thức Tiếng Việt do nhầm lẫn các khái niệm, viết đoạn lan man, không tập trung theo yêu cầu cảm thụ hay phân tích theo yêu cầu của đề; trả lời cụt lủn; trả lời quá dài dòng tốn nhiều thời gian…
Để khắc phục, học sinh phải ôn lại một cách hệ thống các kiến thức tiếng việt từ THCS tới THPT; nắm chắc các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, về giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm. Khi làm bài, phải lưu ý đáp ứng đúng yêu cầu của từng kiểu câu hỏi trong đề ra, tránh lan man hoặc sơ sài, viết đúng chuẩn mực  của một đoạn văn (không xuống dòng, không gạch đầu dòng...) với các câu yêu cầu viết đoạn).


Video đang được xem nhiều

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Giúp học sinh nhận biết, sử dụng hiệu quả phép tu từ nhân hóa

GD&TĐ - Vì là nội dung mới nên việc nhận biết và sử dụng hiệu quả phép tu từ nhân hóa là mội nội dung khó với học sinh lớp 3.

Chỉ ra hạn chế trong việc dạy học nội dung này, cô Phạm Thị Thu Hương - Giáo viên Trường tiểu học Hồ Tùng Mậu (Nam Định) – cho biết:
Nhiều học sinh lúng túng trong việc nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa. Mặt khác, do khả năng nhận thức mới ở mức độ đơn giản nên các em cảm nhận biện pháp tu từ này chưa tốt. Bản thân giáo viên, cũng lúng túng khi dạy học nội dung này.
Để khắc phục tình trạng trên, cô Phạm Thị Thu Hương cho rằng, trước hết, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân hóa, cũng như tác dụng của biện pháp tu từ này.
Sau khi khái quát và củng cố cũng như khắc sâu kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa, giáo viên cần cho học sinh nắm vững và vận dụng ở các dạng phù hợp.
Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân hóa
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người.
Ngoài nội dung cơ bản trên, theo cô Hương, giao viêncó thể nói thêm: Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người. Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hóa, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình
Nhân hóa là gọi hoặc tả về tính nết, hoạt động con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi và tả người.
Về các cách nhân hóa, với nội dung dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật, trước hết giáo viên cho học sinh tập hợp những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân thuộc của con người như ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, thím, cậu, mợ, …
Sau đó, hướng dẫn học sinh nhận biết những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân thuộc của con người trong nhóm trên khi đi với một danh từ chỉ con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên thì con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên đó đã được nhân hóa.
Vơi cách dùng những từ vốn chỉ hoạt động, đặc điểm của người để chỉ hoạt động,đặc điểm của vật, giáo viên cho học sinh tập hợp những động từ chỉ hoạt động của con người, tập hợp những tính từ chỉ tính chất, trạng thái của con người; hướng dẫn học sinh những từ chỉ hoạt động, đặc điểm của con người được gán cho đối tượng không phải là người thì đối tượng đó đã được nhân hóa.
Ngoài ra, còn có cách nhận hóa: Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người; các nhân vật, sự vật tự xưng.
Khắc sâu lý thuyết bằng các dạng bài tập phù hợp
Sau khi khái quát và củng cố cũng như khắc sâu kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa, cô Hương cho rằng, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững và vận dụng ở các dạng bài tập sau:
Bài tập nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa: Hình thức của dạng bài tập này thường là nêu ngữ liệu qua đoạn văn, câu thơ, câu văn... trong đó có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, từ đó hiểu được nhân hóa là gì.
Dạng bài tập này có thể chia thành các bài tập nhỏ: Nhận diện (tìm) sự vật nhân hóa; tìm từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hóa.
Dạng bài tập suy luận, phân tích: Đây là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, luôn sáng tạo cho học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của biện pháp nhân hóa.
Dạng bài tập tạo lời: Với nội dung này, tạo lời không chỉ yêu cầu đúng mà còn yêu cầu hay. Để làm được điều đó ngoài việc nắm được thế nào là nhân hóa, các cách nhân hóa, học sing còn phải hiểu tác dụng của biện pháp nhân hóa, đòi hỏi người thực hiện phải hiểu biết rất nhiều về sự vật trong thế giới xung quanh.
Do đó có thể hiểu “tạo lời” là một hoạt động thể hiện rõ nhất tính tích cực trong nhận thức của học sinh. Bởi tính phức tạp của nó nên bài tập “tạo lời” về nội dung nhân hóa được cấu tạo đơn giản, dể hiểu và có số lượng không nhiều.
Loại này phân thành các dạng nhỏ sau: Tìm những từ ngữ chỉ người, chỉ đặc điểm, dấu hiệu của con người, điền vào chỗ trống cho thích hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hóa; Sử dụng biện pháp nhân hóa để diễn đạt lại những câu văn cho sinh động, gợi cảm; tập viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa.
3 bước tổ chức dạy học các dạng bài tập về tu từ nhân hóa.
Cô Hương cho biết, tổ chức dạy học các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa ở lớp 3 thông thường được thực hiện theo các trình tự:
Bước 1: Nhận diện bài tập. Một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập, cả lớp vừa nghe vừa theo dõi bài tập trong sách giáo khoa để nhận diện ra hình ảnh nhân hóa, sự vật nhân hóa có trong câu văn, câu thơ.
Bước 2: Phân tích bài tập. Sau khi đã nhận ra hiện tượng hình ảnh nhân hóa có chứa trong câu văn câu thơ, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích một trường hợp để tìm ra các yêu cầu của bài tập.
Bước 3: Hướng dẫn bài làm. Học sinh sau khi đã tìm ra được dạng bài thì tự phân tích để hiểu bài tập rồi trình bày bài làm theo ý hiểu của mỗi học sinh.
Bước 4: Tổ chức cho học sinh nhận xét đánh giá kết quả của bài tập để các em nhớ lại một lần nữa kiến thức đã học. Để học sinh có thể tự đánh giá, giáo viên cần nêu các tiêu chuẩn để yêu cầu từng học sinh đánh giá bài mình hoặc bài của bạn theo chuẩn đã nêu…
Một số lưu ý quan trọng
Biện pháp tu từ nhân hóa không chỉ được dạy ở các bài trong phân môn Luyện từ và câu mà phải dạy khi học các môn khác có nội dung nhân hóa, trong cả giao tiếp thông thường. Phân môn thích hơp để tích hợp nội dung này là Tập đọc, Tập làm văn…
Tuy nhiên, cô Phạm Thị Thu Hương lưu ý, để việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp nhân hóa cho học ính đạt kết quả cao, giáo viên cần thường xuyên hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp nhân hóa trong đặt câu, viết đoạn văn để dần dần nâng cao thành sử dụng một cách linh hoạt biện pháp này trong các bài văn miêu tả.
Khi chấm bài , giáo viên nên đọc và chữa lỗi một cách tỉ mỉ, cần gợi ý, hướng dẫn, gợi mở nhiều cách viết để học sinh lựa chọn cách viết phù hợp; hoặc lựa chọn những hình ảnh phù hợp trong câu văn, đoạn văn để học sinh khắc sâu hơn về cách sử dụng biện pháp này trong phân môn Luyện từ và câu.
Để học sinh hứng thú với việc học luyện từ và câu, bên cạnh đưa ra các dạng bài tập phong phú, phù hợp với trình độ tiếp nhận của học sinh, giáo viên cũng cần tạo ra một môi trường học tập thân thiện, hấp dẫn, lôi cuốn để phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập.
Hải Bình (ghi)

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Đọc hiểu: Đề 15 phút



Đọc kỹ đoạn thơ và trả lời những câu hỏi sau:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió

Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố
     (Thuyền và biển- Xuân Quỳnh, Chồi biếc, Nxb Văn học, 1963)
1.      1. Hình ảnh Biển bạc đầu thương nhớ  và Lòng thuyền đau - rạn vỡ
diễn tả tâm trạng gì?
2.      Đoạn thơ đã sử dụng những phép điệp nào? Hiệu quả nghệ thuật của nó.
3.    Viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về tình yêu của giới trẻ hiện nay.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Đề thi 120 phút- Chủ đề Văn xuôi hiện đại VN lớp 12

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ 1
CHỦ ĐỀ VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 12
Thời gian làm bài: 120 phút
MỨC ĐỘ

CHỦ ĐỀ
NHẬN BIẾT
THÔNG HIỂU
VẬN DỤNG
TỔNG SỐ
Thấp
Cao
1. Đọc hiểu
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)
Nhận diện phương thức biểu đạt của văn bản
Nêu nội dung chính của văn bản gắn với phương thức biểu đạt
Phân tích và Hiểu tác dụng của hình thức nghệ thuật được sử dụng trong văn bản
Viết đoạn trình bày cảm nhận của bản thân về ý nghĩa 1 chi tiết, 1 hình ảnh trong văn bản

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ
1
10%

1
1.0
10%
1
1.0
10%
3
3.0
30%
2. Làm văn
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)



Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kỹ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận về một nhân vật văn học kết hợp với vấn đề xã hội

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ



1
7.0
70%
1
7.0
70%
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỷ lệ
1
1.0
10%
1
1.0
10%
2
8.0
80%
4
10.0
100%

Ghi chú: văn bản trích dẫn của phần đọc hiểu và làm văn không liên quan với nhau.


_____________________________-



ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 - NĂM HỌC 2014 - 2015
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 12
Thời gian làm bài: 120 phút
__________________

I.              ĐỌC HIỂU:(3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
       …“ Tôi về Thành Trung vào đầu xuân. Làng Châu Hoá đang rộ mùa rau trái, khí đất hùng hậu, hương đất nồng nàn tưởng như nhìn là thấy được. Trong đêm khuya, chưa bao giờ tôi được nghe một mùi đất thơm đến vậy, xao xuyến như da thịt, sâu  thẳm như thời gian. Chính lúc ấy, tôi liên tưởng đến sông Hương với cái tên gợi cảm của nó; Sông Hương như hiện thân thành một cô gái thần tiên trong truyện cổ nào thuỳ mị đứng bên tôi, nghe tôi hỏi giọng bồi hồi: - Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như thế này: con  người  đã đặt tên cho  dòng   sông như nhà  thơ chọn  bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử.”
                              (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường)
1.     1. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.
2.    2.  Gọi tên hai biện pháp tu từ và nêu hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ đó.
3.   3.   Viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) trình bày ý nghĩa chi tiết “con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi”
II. LÀM VĂN: (7 điểm)   
Phân tích vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân để thấy được vẻ đẹp của con người lao động Tây Bắc. Từ đó, anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm của người lao động trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
-----Hết-----


Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

ĐỀ KIỂM TRA 45 PHÚT

Tiết 9 - PPCT                                            
Ngµy so¹n:    / 08/ 2014                                                          Môn :Ngữ văn             
Thùc hiÖn:   /08 / 2014                                            Thời gian làm bài : 45 phút ( bài viết số 1)
                                                         (Không kể thời gian giao đề)
  I. Môc tiªu bµi häc:
 * Giúp hs:
 1. Kiến thức : Vận dụng kiến thức và kĩ năng về văn nghị luận đã học để viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng đạo lí .
-Tiếp tục rèn luyện kĩ năng
 2. Kĩ năng: Tiếp tục rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề , lập dàn ý và các thao tác lập luận trong bài nghị luận xã hội như giải thích , phân tích , bác bỏ, so sánh , bình luận. ….
3. Thái độ: Nâng cao nhận thức về lí tưởng, cách sống của bản thân trong học tập và rèn luyện.
II. Giáo dục kĩ năng sống:
-Giải quyết vấn đề : suy nghĩ về vấn đề nghị luận ,lựa chọn cách giải quyết đúng đắn , lập luận chặt chẽ , logic để triển khai một vấn đề xã hội.
- Tự nhận thức, xác định giá trị tự tin, tự trọng:  Xác định được các giá trị chân trong cuộc mà mỗi con người cần hướng tới. 

 III. Hình thức đề kiểm tra
  - Hình thức tự luận.
- Cách tổ chức kiểm tra: cho học sinh làm bài tự luận trong 45 phút.
 IV. Thiết lập ma trận.
Tiến trình/
Lĩnh vực
Thu thập thông tin
( Nhận biết)
Phân tích, lí giải văn bản
( Thông hiểu)

Phản hồi và đánh giá
( Vận dụng)
Tổng

1. Đọc hiểu




Câu 1
Nhận biết được biện pháp tu từ trong đoạn thơ trên.
(5% = 0,5đ)





0,5đ = 5%
Câu 2



Cảm nhận đúng về chi tiết, thông tin trong văn bản, hoặc xác định đúng tác dụng của  biện pháp NT .
( 5% = 0,5đ)





0,5đ = 5%
Câu 3






Có kĩ năng viết đoạn văn .Bày tỏ suy nghĩ của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản
( 10% = 1đ)
1đ = 10%


Kiểu bài văn NLXH về một tư tưởng đạo lí .
(10% = 1đ)

-  Lựa chọn phương pháp lập luận phù hợp với kiểu bài.
 - Nắm được vấn đề nghị luận.
- Giải thích hợp lí.
(20% = 2đ)

1. Vậndụng thấp:
- Đảm bảo được bố cục. Triển khai vấn đề đúng hướng, đầy đủ về nội dung và đảm bảo về hình thức.
- Dẫn chứng phù hợp.
2.Vận dụng cao:
- Triển khai vấn đề trọn vẹn, sâu sắc về nội dung và hình thức.
- thể hiện được sự hiểu biết xh sâu sắc, năng lực viết linh hoạt, có cảm xúc sâu sắc.
     (50% = 5đ)


2. Tập làm văn
Tổng
4 câu
15% = 1,5đ
25% = 2,5 đ
  60% = 6đ
10đ = 100%
V. Biên soạn đề kiểm tra.
  A. Phần - Đọc hiểu (2,0 điểm):
    Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
                                     Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
                                     Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?
                                     Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
                                    Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!
                                  
                                    Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
                                    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
                                    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
                                   Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
                                                                                                ( Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Câu 1: Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong hai câu thơ: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn? ( 0,5 điểm)
Câu 2: Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ hai. Tác dụng?   ( 0,5 điểm)
Câu 3:Viết 3 câu văn nêu cảm nhận của Anh,(chị) về ý thơ:Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. (1,0 điểm)

B. Phần Làm văn (8,0 điểm):
    Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 1 trang giấy thi), trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến sau:

       Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.
                                                        (Nooc-man Ku-sin, theo Những vòng tay âu yếm, NXB Trẻ, 2003)
    
  
                                            ......................................Hết............................................


                                          H­Ưíng dÉn chÊm, biÓu ®iÓm
         ( Hướng dẫn chấm gồm 02 trang)
 

Phần 1: Đọc hiểu (2,0 điểm)
I. Hướng dẫn chung 
      Học sinh có kĩ năng đọc hiểu văn bản, có khả năng tích hợp, vận dụng kiến thức được học.
II. Đáp án và thang điểm:
 Câu 1 (0,5 điểm):    
         - Mức đầy đủ:  Biện pháp đối lập : ở/đi ; đất là vật vô tri/ đất là tâm hồn người. Mã 1
         - Mức không đầy đủ: chỉ trả lời được một trong ba ý trên.                                   Mã 0
    - Mức không đạt: các phương án khác hoặc không trả lời                                    Mã 9.          
                                     
Mã
Thang điểm
1
0.5
0
0,25
9
0

   Câu 2 (0,5 điểm):    
        - Mức đầy đủ:   +Biện pháp tu từ : So sánh.
                                   + Tác dụng : diễn tả chân thực, sinh động nỗi nhớ trong tâm hồn thi nhân.       Mã 1
       - Mức không đầy đủ: chỉ trả lời được một trong hai  đáp án.                                                        Mã 0
- Mức không đạt: các phương án khác hoặc không trả lời                                                               Mã 9.         
                                     
Mã
Thang điểm
1
0.5
0
0,25
9
0
Câu 3 ( 1,0 điểm): 
- Mức đầy đủ là:  - Ý câu thơ nói về sức mạnh của tình yêu. Ở đâu có tình yêu, ở đó là quê hương.Mã 1                                                                                                                                   
 - Mức không đầy đủ: 
+ Chỉ trả lời được một   trong hai ý trên                                                                                      Mã 2                                           
+ Trả lời có ý đúng nhưng chưa rõ ràng, còn chung chung, câu văn quá dài.                             Mã 0
-         Mức không đạt: các phương án khác hoặc không trả lời                                                           Mã 9                                                                                        

Mã
Thang điểm
1
1,0
2
0,5
0
0,25
9
0




Phần 2: Làm văn (8,0 điểm)
I. Yêu cầu chung   
1. Về Kĩ năng:  Học sinh biết làm bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí, thành thạo kĩ năng dựng đoạn và triển khai đoạn. Bố cục rõ ràng, diễn đạt lưu loát, dùng từ, đặt câu chính xác.
2.Về kiến thức: Học sinh phải làm rõ các ý cơ bản sau:
II. Yêu cầu cụ thể và biểu điểm:
Xác định đúng yêu cầu của đề bài.
Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần phải đảm bảo những ý chính sau:

Ý
                                                               Néi dung
  Biểu điểm                       
MB
 - Nêu vấn đề nghị luận: Sự sống trong tâm hồn con người.
1,0
TB
a. Giải thích:
- Chết là chấm dứt cuộc sống theo nghĩa sinh học, đấy là một sự mất mát.
- Tâm hồn tàn lụi là một tâm hồn thờ ơ, lạnh lùng, vô cảm, sống không đúng nghĩa. Khi đang sống mà để tâm hồn tàn lụi là sự mất mát lớn nhất.
- Ý kiến khẳng định, đề cao sự sống về tinh thần, sự sống trong tâm hồn con người.
3,0

b.  Bình luận:
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến:
+ Cái chết là quy luật của cuộc sống; con người, sự được mất của cá nhân không chỉ dựa vào tiêu chí sống hay chết mà quan trọng ở những giá trị mà cuộc sống  của cá nhân đó tạo ra; cái chết có khi là sự nối dài của sự sống, con người chết đi nhưng giá trị tinh thần của họ sẽ còn mãi mãi…
+  Tâm hồn là nhân tố quan trọng  khẳng định cuộc sống đích thực của con người, tâm hồn tàn lụi thì sống như đã chết, sống hoài, sống phí. Sống với tâm hồn tàn lụi con người mất đi khả năng sống có ích, khả năng cảm nhận, đánh giá những giá trị của cuộc sống; đó chính là mất mát lớn nhất.
- Phê phán những biểu hiện của cuộc sống vô nghĩa, sống ích kỉ…
4,0
KL


- Đánh giá chung.
- Bài học nhận thức và hành động:
Không ngừng trao dồi, vun đắp cho tâm hồn những gì tốt đẹp nhất để có một đời sống thật ý nghĩa.
1,0

III. Kiểm tra, xem xét lại đề và hướng dẫn chấm.



                                                  ...........................Hết...........................................

PHÊ DUYỆT CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
                                                                                                                         Người biên soạn đề
                                                                                                                                                                                                                  Nguyễn Thị  Phương Lan