Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan niệm sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quan niệm sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Thi THPT Quốc gia 2015

ĐỀ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
            Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
                        Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
                        Cho biển cả không còn hoang lạnh
                        Đứa ở đồng chua
                        Đứa vùng đất mạn
                        Chia nhau nỗi nhớ nhà
                        Hoàng hôn tím ngát xa khơi
                        Chia nhau tin vui
                        Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
                        Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
                        Hắt lên chúng tôi nhếch nhoáng vàng
                        Chúng tôi coi thường gian nan
                        Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
                        Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
                        Ngày mai đảo sẽ nhô lên
                        Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
                        Hoàng Sa, Trường Sa
                        Những quần đảo long lanh như ngọc dát
                        Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
                        Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
                        Đảo à, đảo ơi!
                                                                                Đảo Thuyền Chài, 4-1982
                                                (Trích Hát về một hòn đảo- Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
            Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
            Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất,… có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trong thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ. Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8. Anh/ Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
            Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.
            Anh/ Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
            Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
            - Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
            - Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
            - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
            - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
            - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
            - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không?- Tôi hỏi.
            - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
            - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
            - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
            - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu – bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?
            - Phải- Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
            Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
            - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
            - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi.
            - Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.75-76)
            Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

THƠ HIỆN ĐẠI VN 1930-1945

4.2.2. Đề kiểm tra cho chủ đề thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900-1945 (Lớp 11) ==> Trích tài liệu tập huấn của BGD
Ma trận đề kiểm tra

    Mức độ

Chủ đề
Nhận biết

Thông hiểu
Vận dụng thấp

Vận dụng cao
Tổng số
 I. Đọc hiểu
Đoạn thơ ”Ta muốn ôm” đến hết (Trích Vội vàng, Xuân Diệu)

- Sự hiện diện của chủ thể trữ tình (qua các cách xưng hô) cùng chiều hướng cảm xúctrong đoạn thơ.
- Các biện pháp tu từ, các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật (danh từ, tính từ).

- Hiểu được diễn biến cảm xúc của nhân vật trữ tình qua ý nghĩa của việc chuyển đổi cách xưng hô từ tôi sang ta.
- Hiểu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật (điệp, liệt kê, câu thơ vắt dòng...) đối với việc thể hiện điệu cảm xúc trong đoạn thơ.
- Vận dụng hiểu biết về đoạn thơ vào việc bình luận, đánh giá một ý kiến cho trước.
- Vận dụng tổng hợp hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ vào việc làm rõ nhận định của Hoài Thanh về Xuân Diệu (nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới).

Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
  4
1,0
10%
2
1,0
10%
1
0,5
05%
1
0,5
05%
8
3,0
30 %
II. Làm văn
Nghị luận xã hội



- Vận dụng hiểu biết văn học, văn hóa, xã hội và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống.


Số câu
Số điểm
Tỉ lệ

1
7,0
70%

1
      7,0
70%
Tổng chung:
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ


4
1,0
10%


2
1,0
10%


2
7,5
75%


1
0,5
05%


9
10,0
100%

Đề kiểm tra
Thời gian làm bài: 45 phút
Phần I : Đọc hiểu (3.0đ)
Đọc và trả lời những câu hỏi sau :
Ta muốn ôm
                                                Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
                                                Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
                                                Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
                                                Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
                                                Và non nước, và cây, và cỏ rạng
                                                Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
                                                Cho no nê thanh sắc của thời tươi
                                                - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
                                                                                                (Trích Vội vàng,Xuân Diệu)
1.      Những thông tin sau về đoạn thơ trên đúng hay sai?
Niềm ham muốn mãnh liệt “tôi muốn” ở đầu bài thơ giờ đã chuyển thành “ta muốn”.
Đúng / Sai
Niềm khát khao tận hưởng vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống ngày càng tăng dần về cường độ.
Đúng / Sai
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóađã được tận dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Xuân Diệu.
Đúng / Sai
Nhà thơ đã sử dụng một hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ để tạo ra một thế giới đầy sức hấp dẫn, thôi thúc con người hưởng thụ, chiếm lĩnh.
Đúng / Sai

2.      Việc chuyển đổi cách xưng hô từ “tôi” sang “ta” chủ yếu nhằm thể hiện điều gì?
A.    Sự rộng lớn, mênh mông của tâm hồn thi nhân trước sự chật chội của “lượng trời”.
B.     Vẻ đẹp, tầm vóc lớn lao của con người trước thiên nhiên và cuộc sống con người.
C.     Sức sống mạnh mẽ, sự thức tỉnh của cái “tôi” thơ mới sau thời gian dài phải núp mình trong cái “ta”.
D.    Khát vọng nâng mình lên một tầm vóc lớn lao hơn để có thể thu nhận hết mọi vẻ đẹp của cuộc sống. 
3.      Nhịp điệu gấp gáp trong cuộc chạy đua với thời gian để tận hưởng những vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống không được tạo ra bởi phương tiện nghệ thuật nào?
A.    Các động từ mạnh, ngày càng tăng dần về cường độ.
B.     Những câu thơ gọn, chắc, đăng đối, cân xứng về nhịp.
C.     Những câu thơ vắt dòng để cảm xúc tràn từ dòng trên xuống dòng dưới.
D.    Những cấu trúc trùng điệp gắn liền với thủ pháp liệt kê.
4.      Đánh giá đoạn thơ trên, có ý kiến cho rằng : đó là một cái “tôi” vị kỷ, sống hưởng thụ, sống gấp. Bạn có đồng ý với ý kiến này không? Hãy giải thích ngắn gọn (không quá 3 câu).
…………………………………………………………………………………
5.      Chúng ta có thể nói gì về những yếu tố mới mẻ đã góp phần làm nên danh hiệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) của Xuân Diệu qua đoạn thơ này? (Trình bày trong khoảng từ 5-7 câu)
…………………………………………………………………………………
Phần II : Tự luận (7.0đ)
            Hãy lắng nghe những lời đối thoại về quan điểm sống sau đây:
-         Xuân Diệu :
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
                        Cho nên :
Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm
                                                                                                            (Vội vàng)
                                    Mau với chứ, vội vàng lên với chứ !
                                    Em, em ơi, tình non đã già rồi.
                                                                                    (Giục giã)
-         Nguyễn Ngọc Thuần : “Trong nhịp sống ồn ào, vội vã hôm nay, đôi khi ta cũng cần dừng lại, mua thêm cho mình một chút suy tư, một chút nhớ mong, một chút bình yên, để lấy sức và rồi tiếp tục bước đi” .
(Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ)
-         Còn bạn? ………………................................................................................
Hãy thể hiện quan điểm của bản thân về vấn đề trên bằng một bài văn không quá 400 từ.
Hướng dẫn chấm
Phần 1 : Đọc hiểu (3.0điểm)
Câu 1 : 1.0 điểm, mỗi ý : 0.25 điểm
Niềm ham muốn mãnh liệt “tôi muốn” ở đầu bài thơ giờ đã chuyển thành “ta muốn”
Đúng
Niềm khát khao tận hưởng vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống ngày càng tăng dần về cường độ
Đúng
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa đã được tận dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Xuân Diệu.
Sai
Nhà thơ đã sử dụng một hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ để tạo ra một thế giới đầy sức hấp dẫn, thôi thúc con người hưởng thụ, chiếm lĩnh.
Đúng

Câu 2 : (0.5đ)
Phương án : D
Câu 3 :(0.5đ)
            Phương án : B
Câu 4 :(0.5đ)  
            Không.Vì đây là sự hưởng thụ chính đáng, biết sống với những gì mình có và mình đáng được hưởng khi tuổi trẻ không lặp lại lần thứ hai trong đời.
Câu 5 : 0.5đ
-         Cái “tôi” cá nhân lớn lao, mạnh mẽ, công khai bộc bạch khát vọng và hành động hưởng thụ cuộc sống ở mọi chiều kích khác nhau.
-         Những cách diễn đạt mới mẻ hiếm thấy trong thơ ca truyền thống (VD : câu thơ cuối)
Phần II : Làm văn (7.0 điểm)
1.      Yêu cầu về kĩ năng
-         Biết cách làm bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý, hiện tượng đời sống.
-         Vận dụng tốt các thao tác lập luận.
-         Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.
-         Có những cách viết sáng tạo, độc đáo.
2.      Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể viết theo những cách khác nhau miễn là thuyết phục trên cơ sở lập trường tư tưởng sau: cần linh hoạt, ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh sống, tùy thời điểm và điều kiện mà “sống nhanh” hay “sống chậm” miễn là sống có ích, có ý nghĩa, kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ.
3.      Biểu điểm
-         Điểm 6-7 : đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.
-         Điểm 4-5 : đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 2-3 : đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 1: không đáp ứng được các yêu cầu trên, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 0: không làm bài.