Công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và SGD HCM về tổ chức dạy học trong học kỳ II và ôn tập thi THPT Quốc gia năm 2017
1.Các HD của BGD: Tải về
2.Các HD của Sở giáo dục HCM: Tải về
3. Qui chế thi quốc gia và xét tốt nghiệp THPT từ 2017
4. BGD : Bộ đề minh hoạ (2016-2017)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đề minh họa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đề minh họa. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017
Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017
Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016
Thi quốc gia THPT 2016
Trả lời phỏng vấn của Thanh Niên hôm qua 17.2, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho biết Bộ sẽ công bố đề thi minh họa kỳ thi THPT quốc gia để học sinh và các trường hình dung cụ thể hơn về cách thức ra đề trong năm nay.
Đề thi về cơ bản vẫn như năm 2015, nội dung nằm trong chương trình THPT, chủ yếu lớp 12 và tăng cường câu hỏi mở, đảm bảo tính phân hóa, giúp xét công nhận tốt nghiệp và làm căn cứ tuyển sinh ĐH, CĐ.
Đề thi kỳ thi THPT quốc gia cũng sẽ tiếp tục đặt ra yêu cầu ở 2 mức độ cơ bản và nâng cao. Trong đó, dự kiến tỷ lệ điểm dành cho mức độ cơ bản chiếm khoảng 60% tổng số điểm và nâng cao 40% để đảm bảo phân loại được trình độ của thí sinh. Đề thi ra theo hướng đánh giá năng lực người học, tăng cường các câu hỏi vận dụng kiến thức, giảm yêu cầu thuộc lòng, ghi nhớ máy móc hay trả lời theo khuôn mẫu có sẵn.
Về hình thức, đề thi môn ngữ văn có 2 phần: phần đọc hiểu và phần làm văn; đề thi các môn ngoại ngữ có 2 phần: viết và trắc nghiệm, trong đó tỷ lệ điểm dành cho phần viết chiếm khoảng 20% tổng số điểm.
Ghi nhận của Thanh Niên cho thấy, ý kiến các giáo viên đều đề nghị đề thi phải đảm bảo được 2 mục đích của một kỳ thi, tránh hiện tượng xét tốt nghiệp THPT thì quá nặng mà xét tuyển ĐH, CĐ lại quá nhẹ hoặc ngược lại. Nhiều giáo viên và học sinh (HS) cho rằng, đề thi minh họa là cần thiết vì năm 2015 khi Bộ công bố đề thi minh họa, nhiều ý kiến đã góp ý về những bất cập của một số môn và sau đó Bộ đã điều chỉnh tích cực ở đề thi chính thức.
Phải đọc nhiều văn bản ngoài sách giáo khoa
Đối với môn văn, ông Đặng Đình Đại, Hiệu trưởng Trường THPT Wellspring (Hà Nội), đề nghị phải bám sát vào mặt bằng chung về chất lượng giáo dục ở các vùng miền khác nhau, vào thời gian làm bài.
Đề thi chú trọng nhiều kỹ năng, quan tâm cả kiến thức ngữ văn lẫn hiểu biết xã hội, thời sự; đề cao khả năng tư duy, phân tích, nếu HS chỉ học tủ theo tác phẩm, văn mẫu sẽ không làm được bài. HS buộc phải chịu khó đọc nhiều văn bản ngoài sách giáo khoa, học đào sâu suy nghĩ để hiểu về văn bản đó. Tuy nhiên, ông Đại cũng đề nghị, đổi mới cách ra đề thi dù muốn hay không phải bám sát với thực tiễn dạy học và đánh giá thường xuyên của các nhà trường hiện nay, khi mà việc đổi mới phương pháp còn thiếu đồng bộ và chưa thực sự thay đổi được cách dạy học đọc, chép, ghi nhớ máy móc.
Với môn địa lý, ông Vũ Quốc Lịch, giáo viên THPT Hà Nội - Amsterdam, đề nghị Bộ cần sớm công bố thí sinh có được mang Atlat vào phòng thi hay không. Tuy nhiên, ông Lịch cũng cho rằng, phần đề thi có thể sử dụng Atlat để làm bài không nên chiếm tỷ lệ nhiều vì thực tế, thí sinh rất chủ quan vì nghĩ rằng đã có Atlat. Có giáo viên chủ nhiệm khuyên HS tập trung học các môn khác còn “môn địa lý thì không sợ, bởi các em đã có Atlat”. Địa lý là môn gắn với rất nhiều kiến thức thực tiễn, đề thi nên có sự phân hóa rõ ràng, có những câu hỏi mở gắn với các vấn đề thời sự của đất nước.
Cần phân hóa rõ hơn
Với môn hóa, bà Nguyễn Minh Châu, Tổ trưởng tổ hóa Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội), cho rằng đề thi môn hóa như năm 2015 là khá ổn.
Bà Châu chia sẻ: "Một đề hóa chỉ thực sự hay khi mà trong đó lồng ghép những câu đòi hỏi thí sinh phải đào sâu suy nghĩ một chút mới trả lời được. Tuy nhiên, với nội dung chương trình hiện hành và với đề thi trắc nghiệm, điều này rất khó thực hiện.
Chẳng hạn như cách hỏi trong các đề thi SAT của Mỹ. Họ đưa ra những câu hỏi lý thuyết khá hàn lâm, còn các câu hỏi thực hành lại rất cụ thể. Dĩ nhiên, nếu mình ra đề kiểu đó thì HS sẽ không làm được, đơn giản là chúng ta dạy HS tiếp cận môn hóa khác với họ. Vì thế, để có những đề hóa thật hay, có lẽ phải đợi đến khi bao giờ chúng ta dạy HS giống như cách họ dạy, thi giống kiểu của họ".
Về môn lý, ông Dương Đức Thắng, Tổ trưởng tổ vật lý Trường THPT Chu Văn An (Hà Nội), cho rằng đề thi môn lý như năm ngoái là quá dễ, không đánh giá được năng lực của những HS khá giỏi cũng như không phân biệt được HS nào giỏi hơn.
Trong 50 câu, chỉ khoảng 15 câu được gọi là khó hơn, dành cho những thí sinh khá giỏi, có nguyện vọng xét tuyển ĐH. Vì lượng câu hỏi ít quá, không đủ cho HS khá giỏi thể hiện nên ranh giới giữa HS từ khá trở lên với trung bình khá là rất ít. Vì thế, nếu Bộ GD-ĐT vẫn giữ nguyên số lượng 50 câu hỏi cho mỗi đề thi trắc nghiệm thì cấu trúc đề thi năm nay cần phải thay đổi, ít ra phải có 25 trong tổng số 50 câu hỏi dành cho thí sinh có nguyện vọng xét tuyển ĐH.
Theo ông Thắng, vẫn có thể điều chỉnh. Chẳng hạn, có thể kéo dài thời gian làm bài môn trắc nghiệm thành 120 phút để thiết kế đề thi với số lượng câu hỏi nhiều hơn, 65 - 70 câu hỏi. Trong đó, 25 câu hỏi dễ dành cho HS chỉ có nguyện vọng xét tốt nghiệp, 35 - 40 câu hỏi dành cho HS muốn xét tuyển ĐH. Đề thi cũng sẽ chia làm 2 phần, phần 1 gồm 25 câu, phần 2 khoảng 35 - 40 câu. Các câu hỏi cũng sẽ được xáo trộn trong từng phần, chứ không phải trong cả đề thi.
Ngược lại, bà Lê Thị Thu Hương, Tổ trưởng tổ ngoại ngữ Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An), đề nghị đề thi môn tiếng Anh năm nay cần phải điều chỉnh theo xu hướng tăng câu hỏi dễ, giảm câu hỏi khó xuống thì mới phù hợp với năng lực ngoại ngữ của HS đại trà.
Theo bà Hương, đề năm ngoái khá cơ bản, bám sát chương trình, nhưng do chương trình THPT môn tiếng Anh khá ôm đồm, có quá nhiều chủ đề, mục tiêu quá cao nên quá khó với phần lớn HS. Có những kiến thức chương trình đề cập không sâu, HS bình thường ít để tâm, thì đề ra khiến HS lúng túng.
Ý KIẾN
Câu hỏi mở môn địa lý nên đa dạng hơn
Nên có câu hỏi nâng cao để có sự phân hóa thí sinh cũng như làm cơ sở xét tuyển cho các trường ĐH, CĐ. Đề thi môn địa cần có sự đổi mới, nên chọn các câu hỏi mở gắn liền với sự kiện, vấn đề mới, gần gũi với cuộc sống chứ không nên cứ hỏi mãi về biển đảo như những năm qua. Cứ như vậy, HS sẽ dễ học tủ.
Một giáo viên
(Trường Trung học thực hành Trường ĐH Sư phạm)
Nâng thêm mức khó
Đề thi toán năm 2015 phần 2 câu hỏi để HS đạt điểm 8 và 9 dễ hơn hẳn so với đề thi ĐH những năm trước, nên có những HS lực học ở mức 7 - 8 điểm nhưng lại đạt điểm 8 - 9. Vì vậy, đề thi năm nay với các câu hỏi từ điểm 6 trở đi nên nâng cao thêm độ khó.
Thạc sĩ Ngô Thanh Sơn
(Trường THPT Vĩnh Viễn, TP.HCM)
Chưa đánh giá được HS khá
Đề thi môn toán năm qua bất hợp lý khi chỉ phân biệt được HS có học lực trung bình với giỏi chứ không đánh giá được HS khá. Vì từ yêu cầu của đề thi cho thấy HS khá chỉ chênh với trung bình 1/2 điểm. Năm nay, Bộ cần điều chỉnh khi đưa ra yêu cầu của đề thi. Chẳng hạn, phần khảo sát hàm số nên chia thành 2 ý, trong đó ý thứ nhất dành đánh giá HS trung bình và ý thứ hai khó hơn một chút để phân loại HS trung bình và khá.
Trần Văn Toàn
(Giáo viên Trường THPT Marie Curie, TP.HCM)
Giảm số lượng, tăng chất lượng câu hỏi môn văn
Câu hỏi phần đọc - hiểu môn văn không nên chẻ nhỏ, vụn vặt quá. Thí sinh đã là HS lớp 12 thì nên tránh đưa ra yêu cầu quá dễ như câu hỏi: Văn bản thuộc thể loại gì?... Thay vì với 8 câu hỏi như năm trước thì năm nay Bộ nên giảm số lượng nhưng tăng chất lượng câu hỏi.
Đào Huy Bình
(Giáo viên Trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, TP.HCM)
Quy định chấm thi rõ ràng hơn
Thực tế cho thấy dù 2 giám khảo chấm độc lập nhưng độ vênh nhau khá cao. Vì vậy, Bộ cần có quy định chấm thi rõ ràng và tính trung bình số bài thi/giáo viên một cách hợp lý để đảm bảo tính công bằng cho thí sinh.
Một giáo viên
(Trường THPT Lương Thế Vinh, TP.HCM)
Giảm độ khó phần đọc hiểu môn tiếng Anh
Năm nay Bộ nên giảm độ khó ở một số nội dung. Chẳng hạn, ở phần đọc đoạn văn - trả lời câu hỏi và điền từ vào đoạn văn, thí sinh năm trước phải mất khá nhiều thời gian để đọc 2 đoạn văn với nhiều từ vựng mới, khó. Vì vậy, năm nay Bộ nên điều chỉnh để những thí sinh chỉ xét tốt nghiệp hoặc không dùng môn tiếng Anh để tuyển sinh ĐH, CĐ sẽ không gặp khó khăn.
Lê Thanh Tùng
(Giáo viên Trường THPT Lương Thế Vinh, TP.HCM)
Bích Thanh
(ghi) |
Tuệ Nguyễn - Quý Hiên
Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015
BGD: ĐỀ BÀI MINH HỌA KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN 6
CÂU HỎI VÀ ĐỀ BÀI MINH HỌA KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN 6
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
A. Câu hỏi đọc
hiểu văn bản
Đọc hiểu văn bản là một nội dung quan trọng
trong chương trình môn Ngữ văn. Ở
học kì I của lớp
6, HS được đọc hiểu các thể loại của văn học dân gian và truyện trung đại.
Tùy thuộc vào
trình độ của HS, GV có thể sử dụng các văn bản văn học mà HS đã được học
chính thức hoặc
các văn bản chưa được học chính thức nhưng được viết theo cùng thể loại
với văn bản đã học
(lấy ở phần đọc thêm trong tài liệu Hướng dẫn học Ngữ văn 6, Tập một
hoặc các nguồn
tham khảo khác) để xây dựng các câu hỏi theo 4 mức độ: nhận biết, thông
hiểu, vận dụng
và vận dụng cao.
GV nhất thiết phải
đưa vào đề kiểm tra ít nhất 01 văn bản (là đoạn trích hoặc văn bản
hoàn chỉnh) để học
sinh đọc và trả lời các câu hỏi. Tránh trường hợp không đưa vào đề kiểm
tra văn bản để
HS đọc mà chỉ đưa ra các câu hỏi, nhất là mỗi câu hỏi lại liên quan đến một
văn bản HS đã học
trong chương trình, buộc HS phải nhớ các văn bản để trả lời câu hỏi. Bởi
đó không phải là
hình thức kiểm tra đọc hiểu theo định hướng năng lực mà là kiểm tra việc
thuộc lòng, ghi
nhớ kiến thức của HS.
Cần tích hợp việc
kiểm tra Tiếng Việt thông qua đọc hiểu văn bản. Có thể kết hợp
giữa câu hỏi trắc
nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận; tăng cường câu hỏi mở để đánh giá
năng lực của HS.
Khi chấm bài, với những câu hỏi mở, GV cần chấp nhận những suy nghĩ, ý
kiến riêng của
HS nếu hợp lí, không trái với đạo đức và pháp luật.
Sau đây là một số câu hỏi minh họa. Kí hiệu
sau mỗi câu hỏi được quy định như sau:
(1) – mức độ nhận
biết; (2) – mức độ thông hiểu; (3) – mức độ vận dụng; (4) mức độ vận
dụng cao.
I. Đọc đoạn
trích sau và trả lời các câu hỏi:
Giặc đã đến chân
núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó sứ
giả đem ngựa sắt,
roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến
thành một tráng
sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông
ngựa. Ngựa hí
dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa.
Ngựa phun lửa,
tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết
lớp này đến lớp
khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre
bên đường quật
vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ
đuổi đến chân
núi Sóc (Sóc Sơn). Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi
giáp sắt bỏ lại,
rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời’’.
(Trích Thánh Gióng)
Câu 1 (1). Đoạn
trích kể về việc gì?
Câu 2 (1). Ghi lại
01 chi tiết kì ảo, hoang đường trong đoạn trích.
Câu 3 (2). Qua
đoạn trích, nhân dân ta muốn gửi gắm ước mơ nào?
Câu 4 (3). Nêu cảm
nhận của riêng em về nhân vật Thánh Gióng trong đoạn trích.
Câu 5 (1). Ghi lại
ít nhất 02 từ mượn có trong đoạn trích.
Câu 6 (1), (2).
Giải thích nghĩa của từ “tàn quân” và cho biết em giải thích nghĩa của từ đó
bằng cách
nào?
Câu 7 (4). Nhiều
người cho rằng một trong những lí do để Thánh Gióng đánh thắng giặc là
do Thánh
Gióng có
sức khỏe phi thường (mình cao hơn
trượng, oai phong, lẫm liệt, nhổ
những cụm tre
bên đường quật vào giặc). Vậy, em nghĩ mỗi học sinh có cần tập luyện nâng
cao sức khỏe,
phát triển thể chất để bảo vệ Tổ quốc không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 3-5
dòng.
II. Đọc đoạn
trích sau và trả lời các câu hỏi:
Đến ngày lễ
Tiên vương, các lang mang sơn hào hải vị,
nem công chả phượng tới,
chẳng thiếu thứ
gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu,
rất vừa ý, bèn gọi
lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ
rất lâu rồi chọn
hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.
Lễ xong, vua cho
đem bánh ra ăn cùng với quần thần. Ai cũng tấm tắc khen ngon.
Vua họp mọi người
lại nói :
– Bánh hình tròn
là tượng Trời ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất,
các thứ thịt mỡ,
đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài, ta đặt tên là bánh
chưng. Lá bọc
ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp ý
ta. Lang Liêu sẽ
nối ngôi ta, xin Tiên vương chứng giám.
Từ đấy, nước ta
chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng,
bánh giầy. Thiếu
bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết.
(Trích Bánh chưng, bánh giầy)
Câu 1 (1). Đoạn
trích kể về việc gì?
Câu 2 (2). Đoạn
trích nhằm giải thích điều gì?
Câu 3 (3). Em có
đồng tình với ý kiến “Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị
ngày Tết” trong
đoạn trích hay không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 3-5 dòng.
Câu 4 (4). Hiện nay, phong tục gói bánh chưng ngày
Tết trong nhiều gia đình người Việt
Nam đã không
còn. Theo em, chúng ta có cần khôi phục và giữ gìn phong tục ấy không? Vì
sao? Trả lời
trong khoảng 3-5 dòng.
Câu 5 (1). Nhận định nào đúng với cụm từ “hai thứ
bánh ấy” (trong câu “Vua cha ngẫm
nghĩ rất lâu rồi
chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.”)?
A. Là một cụm
danh từ B. Là một cụm động từ
C. Là một cụm
tính từ D. Là một lượng từ
Câu 6 (1),(2).
Giải thích nghĩa của từ “lễ vật” (trong câu “Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp ý
ta.”) và cho biết
em đã giải nghĩa từ đó bằng cách nào?
III. Đọc văn bản
sau và trả lời câu hỏi:
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG
Xưa có một người
thợ mộc dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày.
Cửa hàng anh ta ở
ngay bên vệ đường. Người qua, kẻ lại thường ghé vào xem anh ta đẽo
bắp cày.
Một hôm, một ông
cụ nói :
– Phải đẽo cho
cao, cho to thì cày mới dễ.
Anh ta cho là phải,
đẽo cái nào cũng vừa to vừa cao.
Mấy hôm sau, một
bác nông dân rẽ vào, nhìn đống cày, lắc đầu nói :
– Đẽo thế này
thì cày sao được ! Phải đẽo nhỏ hơn, thấp hơn mới dễ cày.
Nghe cũng có lí,
anh ta liền đẽo cày vừa nhỏ, vừa thấp. Nhưng hàng đầy ra ở cửa,
chẳng ai mua. Chợt
có người đến bảo :
– Ở miền núi,
người ta vỡ hoang, toàn cày bằng voi cả. Anh mau đẽo cày to gấp đôi,
gấp ba như thế
này thì bao nhiêu bán cũng hết, tha hồ mà lãi.
Nghe nói được
nhiều lãi, anh ta đem tất cả số gỗ của nhà còn lại đẽo toàn loại cày để
cho voi cày.
Nhưng ngày qua, tháng lại, chẳng thấy ai đến mua cày voi của anh ta cả. Thế là
bao nhiêu gỗ anh ta đẽo hỏng hết, cái thì bé quá, cái thì to quá. Vốn liếng đi
đời nhà ma.
Khi anh ta biết
cả tin là dại thì đã quá muộn !
(TheoTrương
Chính)
Câu 1 (1). Truyện
kể về việc gì?
Câu 2 (2). Trong
truyện, người thợ mộc bị chê cười vì điều gì?
Câu 3 (3). Hãy
nêu nhận xét/đánh giá của em về việc làm của người thợ mộc trong truyện.
Trả lời trong
khoảng 2-4 dòng.
Câu 4 (4). Đọc xong câu chuyện trên, em rút ra bài
học gì cho bản thân và những người
xung quanh? Trả
lời trong khoảng 3-5 dòng.
IV. Đọc đoạn
trích sau và trả lời câu hỏi.
Cụ tổ bên ngoại
của Trừng, người họ Phạm, húy là Bân, có
nghề y gia truyền, giữ
chức Thái y lệnh
để phụng sự Trần Anh Vương.
Ngài thường đem
hết của cải trong nhà ra mua các loại thuốc tốt và tích trữ thóc gạo.
Gặp kẻ tật bệnh
cơ khổ, ngài cho ở nhà mình, cấp cơm cháo, chữa trị. Dẫu bệnh có dầm dề
máu mủ, ngài
cũng không hề né tránh. Bệnh nhân đến chữa tới khi khoẻ mạnh rồi đi. Cứ
như vậy, trên
giường không lúc nào vắng người.
… Một lần, có
người đến gõ cửa, mời gấp :
- Nhà có người
đàn bà, bỗng nhiên nguy kịch, máu chảy như xối, mặt mày xanh lét.
Nghe vậy, ngài
theo người đó đi ngay. Nhưng ra tới cửa thì gặp sứ giả do vương sai
tới, bảo rằng :
- Trong cung có
bậc quý nhân bị sốt, vương triệu đến khám.
Ngài nói :
- Bệnh đó không
gấp. Nay mệnh sống của người nhà người này chỉ ở trong khoảnh
khắc. Tôi hãy cứu
họ trước, lát nữa sẽ tới vương phủ.
Quan Trung sứ tức
giận nói :
– Phận làm tôi,
sao được như vậy ? Ông định cứu tính mạng người ta mà không cứu
tính mạng mình
chăng ?
Ngài đáp :
- Tôi có mắc tội,
cũng không biết làm thế nào. Nếu người kia không được cứu, sẽ chết
trong khoảnh khắc,
chẳng biết trông vào đâu. Tính mệnh của
tiểu thần còn trông cậy vào
chúa thượng may
ra thoát. Tội tôi xin chịu.
Nói rồi, đi cứu
người kia…
(Trích Thầy thuốc
giỏi cốt nhất ở tấm lòng - Hồ Nguyên Trừng)
Câu 1 (1). Nhân
vật “ngài” xưng “tôi” trong đoạn trích trên là ai ?
Câu 2 (2). Vì sao
nhân vật ấy lại không đến vương phủ trước theo yêu cầu của quan Trung
sứ?
Câu 2 (3). Hãy
nhận xét về hành động “đi cứu người kia” của nhân vật xưng “tôi”.
Câu 3 (4). Em học
được điều gì tốt đẹp từ nhân vật xưng “tôi” ấy? Trả lời trong khoảng 3-5
dòng.
B. Đề bài tập
làm văn – Văn tự sự (kể chuyện)
GV xây dựng các
đề tập làm văn kể chuyện tưởng tượng hoặc kể chuyện đời thường
để đánh giá khả
năng viết văn tự sự của HS. Cần tích hợp kiểm tra Tiếng Việt thông qua tập
làm văn. Cần
tăng cường việc ra đề mở để đánh giá năng lực của HS. Khi chấm bài, với những đề
mở, GV cần chấp nhận những suy nghĩ, ý kiến riêng của HS nếu hợp lí, không trái
với đạo đức và
pháp luật.
Sau đây là một số đề bài minh họa. Các đề bài
tập làm văn này đều được xếp vào mức
độ vận dụng (3)
(nếu kể chuyện theo một cốt truyện đã học/biết) hoặc vận dụng cao (4) (nếu
kể chuyện sáng tạo
hoàn toàn).
Đề 1 (4). Kể lại
một câu chuyện theo chủ đề: cách ứng xử khôn khéo, thông minh của con
người trong cuộc
sống. Gạch dưới các số từ, lượng từ, chỉ từ (nếu có) trong bài văn của em.
Đề 2 (3). Đóng
vai công chúa Mị Nương kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Gạch dưới các
danh từ, cụm
danh từ (nếu có) trong bài văn của em.
Đề 3 (4). Kể cho
người thân nghe một câu chuyện, trong đó nêu lên sự việc làm thay đổi suy
nghĩ / nhận thức
của em về một người bạn. Gạch dưới các tính từ, cụm tính từ (nếu có) trong
bài văn của em.
Đề 4 (4). Kể lại
một chuyến đi chơi thú vị của em và gia đình hoặc bạn bè. Trong bài văn, sử
dụng ít nhất 01
từ nhiều nghĩa và gạch dưới từ đó.
Đề 5 (3). Kể lại
một truyện dân gian mà em thích nhất ở ngôi thứ ba bằng lời văn của em.
Gạch dưới các từ
Hán Việt (nếu có) trong bài văn của em.
C. CÁCH XÂY DỰNG
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I - MÔN NGỮ VĂN 6
Đề kiểm tra Học kì I – Môn Ngữ văn 6 có thời
lượng 90 phút.
Đề thi gồm 2 phần:
- Phần I – Đọc hiểu văn bản (4,0 đến 5,0 điểm):
gồm ít nhất 01 văn bản văn học
(truyện dân gian
hoặc truyện trung đại). Không kiểm tra đọc hiểu văn bản nhật dụng do HS
chưa học văn bản
này ở Học kì I – Lớp 6. Các câu hỏi được xây dựng theo các mức độ: nhận
biết, thông hiểu,
vận dụng, vận dụng cao. Với mỗi mức độ, có ít nhất 01 câu hỏi.
- Phần II – Làm văn (5,0 đến 6,0 điểm): gồm
01 đề bài tập làm văn tự sự kể chuyện
tưởng tượng hoặc
kể chuyện đời thường.
Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015
ĐỀ THI MINH HỌA-KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2015 . THPT Tây Ninh
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH
TRƯỜNG
THPT TÂY NINH
ĐỀ THI MINH HỌA-KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2015
Môn: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 180 phút.
Một chàng trai trẻ xin làm người giúp
việc cho một nông trại. Khi người chủ hỏi anh có thể làm được gì, anh nói:
- Tôi vẫn ngủ được khi trời giông bão.
Câu trả lời hơi khó hiểu này làm người chủ nông trại bối rối. Nhưng vì có
cảm tình với chàng trai trẻ nên ông thu nhận anh.
Một vài ngày sau, người chủ và vợ ông chợt tỉnh giấc giữa đêm vì một cơn
lốc lớn. Họ vội kiểm tra mọi thứ trong nhà thì thấy các cánh cửa đã được đóng
kỹ, nông cụ đã được cất gọn gàng trong kho, máy cày đã được cho vào nhà xe và
chuồng gia súc đã được khóa cẩn thận. Ngay cả những con vật cũng no nê và tỏ ra
không hề sợ hãi. Tất cả mọi thứ đều an toàn và chàng trai vẫn ngủ ngon lành.
Giờ thì người chủ đã hiểu lời của chàng trai trước kia: “Tôi vẫn ngủ được
khi trời giông bão”.
Bởi trước giờ anh luôn thực hiện công việc của mình một cách [.....................] nên anh chẳng cần phải lo lắng gì mà vẫn
có thể tránh được những biến cố khi cơn bão ập tới.
(Trích Hạt giống tâm hồn – NXB Tổng hợp TPHCM)
Câu 1. Điền 1 trong các từ sau vào chỗ trống [.....] sao cho
phù hợp : có mục tiêu/ có mục đích/ có kế hoạch. (0,25 điểm)
Câu
2: Xác định phong cách ngôn ngữ được sử
dụng trong đoạn trích trên. (0,25 điểm)
Câu 2. Câu trả lời của chàng trai “Tôi vẫn ngủ được khi trời giông bão” có hàm ý gì? (0.25 điểm)
Câu
3. Nêu chủ đề chính của câu chuyện.(Trả lời trong khoảng
5-7 dòng) (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau
đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 4
đến Câu 7:
Đây bát ngát Trường Sơn nằm ở giữa
Hai chị em Lào - Việt hai bên
Rừng tươi mát như mẹ hiền lắm sữa
Nghìn chiến khu từng nương bóng mẹ hiền
Tôi về giữa miền Nam trời của mẹ
Miền Nam ơi! Nửa vạt áo mưa dầm
Mỗi chiến công hay từng giọt lệ
Đều xóa dần núi cách sông ngăn
Hai chị em Lào - Việt hai bên
Rừng tươi mát như mẹ hiền lắm sữa
Nghìn chiến khu từng nương bóng mẹ hiền
Tôi về giữa miền Nam trời của mẹ
Miền Nam ơi! Nửa vạt áo mưa dầm
Mỗi chiến công hay từng giọt lệ
Đều xóa dần núi cách sông ngăn
(Chim lượn trăm vòng - Chế Lan Viên)
Câu 4.
Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên. (0,25 điểm)
Câu 5.
Xác định 2 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng
trong hai câu thơ “Rừng tươi mát như mẹ
hiền lắm sữa -
Nghìn chiến khu từng nương bóng mẹ hiền ”. (0,5 điểm)
Câu 6.
Hình ảnh “Nửa vạt
áo mưa dầm” thể hiện điều gì? (0,5 điểm)
Câu 7.
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai câu cuối “Mỗi chiến công hay từng giọt lệ -Đều xóa dần núi cách sông ngăn”. ( Trả lời trong khoảng
5-7 dòng) (0,5 điểm)
Phần
II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
“Trách nhiệm chính là thứ mà con người đôi
lúc cảm thấy bị ràng buộc nhất. Tuy nhiên, đó cũng chính là yếu tố cơ bản cần
phải có để xây dựng và phát triển nhân cách của mỗi con người”. (Frank
Crane).
Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình
bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Câu
2 (4,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Mị
trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài và nhân vật người đàn bà hàng chài
trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” - Nguyễn Minh Châu.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH
TRƯỜNG
THPT TÂY NINH
THANG ĐIỂM ĐỀ THI MINH HỌA-KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM
2015
Môn: Ngữ văn
Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)
Câu 1:
Điền từ thích hợp : có kế hoạch.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong
các cách trên.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 2:
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật/ ngôn ngữ nghệ thuật/ nghệ thuật.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo một trong
các cách trên.
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời.
Câu 3:
Câu trả lời của chàng trai “ Tôi vẫn ngủ được khi trời giông bão” có hàm ý : Tôi là người làm việc cẩn thận, ngăn
nắp, có kế hoạch, mọi chuyện đều nằm trong tầm kiểm soát nên không phải có gì
lo lắng.
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải
hợp lí, có sức thuyết phục.
-
Điểm 0,25: Trả lời đúng, đầy đủ ý trên hoặc diễn đạt theo cách khác nhưng hợp
lí.
- Điểm 0: Trả lời chung
chung,trả lời không hợp lí hoặc
không có câu trả lời.
Câu 4: Chủ đề của câu
chuyện: Nếu chúng ta làm việc có kế hoạch, làm thật tốt được mọi
chuyện có thể thực hiện trong hiện tại thì chúng ta có thể hoàn
toàn yên tâm, tin tưởng vào tương lai.
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải
hợp lí, có sức thuyết phục.
-
Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ ý trên hoặc
diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.
-
Điểm 0,25: Trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.
- Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc
không có câu trả lời.
Câu 4:
Phương
thức biểu đạt chính của đoạn thơ: phương thức biểu cảm/biểu cảm.
- Điểm 0,25: Trả lời đúng theo 1 trong 2
cách trên.
-
Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời .
Câu 5:
Biện pháp tu từ: so
sánh ( như mẹ hiền), nhân hóa (nương bóng), ẩn dụ (bóng mẹ hiền), nói quá (nghìn
chiến khu)
- Điểm 0,5: Trả lời đúng 2 trong 4 biện pháp tu từ theo cách trên
- Điểm 0,25: Trả lời đúng 1 trong 4 biện pháp tu từ theo
cách trên
- Điểm 0: Trả lời sai hoặc không trả lời
.
Câu 6:
Hình ảnh “Nửa vạt áo mưa dầm” thể hiện
nỗi khó khăn, gian truân, vất vả của miền Nam ; tình cảm tha thiết, gắn bó của
nhân dân miền Nam gửi cho những người con tập kết ra Bắc, có thể là nước mắt mừng
vui ngày đoàn tụ, cũng có thể là nước mắt đau thương khi người ra đi không trở
lại,....
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải
hợp lí, có sức thuyết phục.
-
Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ 2 ý trên hoặc diễn đạt
theo cách khác nhưng hợp lí.
-
Điểm 0,25: Trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.
- Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc
không có câu trả lời.
Câu 7:
Hai câu cuối “Mỗi chiến công hay từng giọt lệ -Đều xóa dần núi cách sông ngăn” : dù chiến thắng hay mất mất hi sinh đều thể hiện niềm
tin vào chiến thắng, hai miền Nam - Bắc thống nhất, non sông Việt Nam nối liền
một dãi,...
Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải
hợp lí, có sức thuyết phục.
-
Điểm 0,5: Trả lời đúng, đầy đủ ý trên hoặc
diễn đạt theo cách khác nhưng hợp lí.
-
Điểm 0,25: Trả lời chung chung, chưa thật rõ ý.
- Điểm 0: Trả lời không hợp lí hoặc
không có câu trả lời.
II.
Làm văn (7,0 điểm)
Câu
1. (3,0 điểm)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp
kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết
phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm
tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5
điểm):
- Điểm 0,5 điểm:
Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt
hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn
đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.
- Điểm 0,25:
Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện
được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài
chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.
b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
(0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Xác
định đúng vấn đề cần nghị luận: sự đánh giá/thái độ/quan điểm đối với công việc
của bản thân và những người xung quanh.
- Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị
luận, nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định
sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các
luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự
liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm
(trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa
nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và
sinh động (1,0 điểm):
-
Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
+ Giải thích hai ý kiến để thấy được:
trách
nhiệm của con người một mặt là nói đến những ràng buộc về lời nói, hành vi, việc
làm của mình phải bảo đảm đúng đắn, hoàn thành nếu không sẽ phải gánh chịu hậu
quả. Mặt khác chính trách nhiệm cũng là một yếu tố cơ bản để xây dựng và phát
triển nhân cách của mỗi người.
+ Chứng minh
tính đúng đắn (hoặc sai lầm; hoặc vừa đúng, vừa sai) của ý kiến bằng việc bày tỏ
sự đồng tình (hoặc phản đối; hoặc vừa đồng tình, vừa phản đối) đối với ý kiến.
Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
+ Bình luận để
rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh về lối sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
- Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu
trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa
đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.
- Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu
trên.
- Điểm 0,25: Đáp
ứng được 1/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0: Không
đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5
điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và
sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện
được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức
và pháp luật.
- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo
và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với
chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không
có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc
quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả,
dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5:
Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc
một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0: Mắc
nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
Câu 2. (4,0 điểm)
* Yêu cầu chung:
Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo
lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể
hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
* Yêu cầu cụ thể:
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5 điểm:
Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt
hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên
kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn
đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.
- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài,
Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần
Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.
- Điểm 0: Thiếu
Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn
văn.
b) Xác định đúng
vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
vẻ đẹp tâm hồn của Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài), người đàn bà
hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).
Điểm 0,25: Xác định
chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung.
- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận,
trình bày lạc sang vấn đề khác.
c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm
phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt
chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải
có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng(2,0
điểm):
- Điểm 2,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể
trình bày theo định hướng sau:
+ Giới thiệu về
tác giả, tác phẩm;
+
Phân tích vẻ đẹp của hai nhân vật:
Thí sinh có thể
trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được hình ảnh Mị là cô gái trẻ trung, yêu đời, yêu lao động, hiếu
thảo, giàu lòng tự trọng, dù là thân phận
con dâu gạt nợ - bị vùi dập cả về thể chất lẫn tinh thần – nhưng vẫn tiềm tàng
một sức sống mãnh liệt, một sức mạnh vùng lên để giải phóng cho chính mình và góp
phần giải phóng dân tộc.Nghệ thuật xây dựng tình huống, miêu tả tâm lý nhân vật
đặc sắc, mang đậm màu sắc Tây Bắc của Tô Hoài.
Thí sinh có thể
trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được hình ảnh người đàn bàn hàng chài dù vẻ ngoài thô kệch, xấu xí, cuộc sống
chứa đựng những đau khổ bất hạnh nhưng lại là người giàu đức hi sinh, vì chồng,
vì con và rất thấu hiểu lẽ đời. Nghệ thuật xây dựng tình huống, miêu tả tâm lý
nhân nhật sâu sắc.
+ Chỉ ra điểm
tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn:
Thí sinh có thể diễn đạt theo những cách khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được:
Cả hai nhân vật đều bị hành hạ, ngược đãi cùng cực, là nạn nhân của đói nghèo, thất học.
ü Mị : có sức sống tiềm tàng để vùng lên giải phóng cho
chính mình và góp phần giải phóng buôn làng
thoát khỏi cuộc sống nô lệ, tối tăm.
ü Người đàn bà hàng
chài: cam chịu, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, trải đời, giàu đức hi sinh.
ü Giống:
Hình ảnh người phụ nữ truyền thống Việt Nam chịu thương,
chịu khó.
ü Khác:
Mị là nạn nhân của chế độ thực dân, địa chủ, phong kiến
miền núi. Người đàn bà hàng chài là nạn nhân của tình trạng đói nghèo và thất học.
Thí
sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết
phục.
- Điểm 1,5 - 1,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu
cầu trên, song một trong các luận điểm (phân tích, so sánh) còn chưa được trình
bày đầy đủ hoặc liên kết chưa thực sự chặt chẽ.
-Điểm
1,0 -1,25 : Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.
- Điểm 0,5 - 0,75: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu
trên.
-
Điểm 0,25: Hầu như không đáp ứng được yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.
Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào
trong các yêu cầu trên.
d) Sáng tạo (0,5 điểm)
- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và
sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; văn viết
giàu cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; có quan điểm và thái độ
riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0,25: Có
một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng
sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Điểm 0: Không
có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc
quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm):
- Điểm 0,5:
Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0,25: Mắc
một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Điểm 0: Mắc
nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
