Hiển thị các bài đăng có nhãn Phương thức biểu đạt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phương thức biểu đạt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Đề văn "hại não" ở Giarai

I.                  Đọc hiểu (2 điểm)
 “Hòn đá có thể cho lửa, cành cây có thể cho lửa. Nhưng chỉ có con người mới biết nuôi lửa và truyền lửa. Lửa xuất hiện khi có tương tác, ít ra là hai vật thể tạo lửa. Lửa là kết quả của số nhiều. Cô bé bán diêm là số đơn. Cô đã chết vì thiếu lửa. Để rồi từ đó loài người đã cảnh giác thắp nến suốt mùa Giáng sinh để cho không còn em bé bán diêm nào phải chết vì thiếu lửa?
Nước Việt hình chữ “S”, hiện thân của số nhiều, lẽ nào không biết nuôi lửa và truyền lửa, lẽ nào thiếu lửa? Không có lửa, con rồng chẳng phải là rồng, chỉ là con giun, con rắn. Không có lửa làm gì có “nồng” nàn, “nhiệt” tâm! Làm gì có “sốt” sắng, “nhiệt” tình, đuối tuệ! Làm gì còn “nhiệt” huyết, “cháy” bỏng! Sẽ đâu rồi “lửa” yêu thương? Việc mẹ cha, việc nhà, việc nước, làm gì với đôi vai lạnh lẽo, ơ hờ? Không có lửa em lấy gì “hun” đúc ý chí, “nấu” sử sôi kinh? Em... sống đời thực vật vô tri như lưng cây, mắt lá, đầu cành, thân cỏ.... Cho nên: Biết ủ lửa để giữ nhân cách – người, nhân cách – Việt. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội. Thế nhưng: Nếu không có lửa làm sao thành mùa xuân?”
(Nhà văn Đoàn Lê Công Huy,Trích Thắp mình để sang xuân)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích (0,25 điểm)
Câu 2: Trong đoạn trích trên tác giả sử dụng thao tác lập luận nào (0,25 điểm)
Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn trích (0,5 điểm)
Câu 4: Viết 1 đoạn văn ngắn (khoảng 5 - 7 dòng) thể hiện sự cần thiết của việc “nuôi lửa” ở lứa tuổi học sinh (1 điểm)
-----------------------
http://dantri.com.vn/su-kien/tranh-cai-quanh-de-thi-van-hai-nao-2016050912282362.htm
Đề thi HK2-Giarai




Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Phương thức biểu đạt



PHÂN LOẠI VĂN BẢN THEO PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
Kiểu văn bản
Đặc điểm của phương thức biểu đạt

Miêu tả
Dùng các chi tiết, hình ảnh giúp người đọc hình dung ra được đặc điểm nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong cảnh…làm cho những đối tượng được nói đến như hiện lên trước mắt người đọc.

Tự sự
Trình bày môt chuỗi sự việc liên quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng có một kết thúc nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê.

Biểu cảm
Trực  tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của người viết đối với đối tượng được nói tới.

Điều hành
(Công vụ-
Hành chính)
Trình bày văn bản theo một số mục nhất định nhằm truyền đạt những nội dung và yêu cầu của cấp trên hoặc bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân hay tập thể tới các cơ quan và người có quyền hạn để giải quyết.

Thuyết minh
Trình bày, giới thiệu, giải thích…nhằm làm rõ đặc điểm đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên và xã hội.

Nghị luận
Dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm nhằm thuyết phục người đọc, người nghe về một tư tưởng, quan điểm.


LUYỆN TẬP
Đọc kỹ các văn bản sau đây và xác định phương thức biểu đạt của từng văn bản.
Văn bản 1:
Sầu riêng là loại trái quý, trái hiếm của miền Nam. Hương vị nó hết sức đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa, lâu tan trong không khí. Còn hàng chục mét mới tới nơi để sầu riêng, hương đã ngào ngạt xông vào cánh mũi. Sầu riêng thơm, mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái ngọt của mật ong già hạn. Hương vị quyến rũ đến kỳ lạ.
      Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm. Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi, toả khắp khu vườn. Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà. Cánh hoa như vẩy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy li ti giữa những cánh hoa, mỗi cuống hoa ra một trái. Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến. Mùa trái rộ vào khoảng tháng tư, tháng năm ta.
Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về cái dáng của giống cây kì lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lượn của cây xoài, cây nhãn. Lá nhỏ xanh vàng hơi khép lại, tưởng như lá héo. Vậy mà khi trái chín, hương toả ngào ngạt, vị ngọt đến đam mê.
(Mai Văn Tạo)
Văn bản 2:
Nhưng ngạc nhiên làm sao, trời về xế, lúc ai nấy đang nghỉ trên nhà, bỗng nghe tiếng kêu réo từng hồi: 
- Bà con ơi! Ra coi sấu…Bốn mươi lăm con còn sống nhăn.    
Rõ ràng là giọng Tư Hoạch.
- Diệu kế ! Diệu kế! Tôi là Tư Hoạch đi bắt sấu về đây. Bà con coi sấu lội có hàng dưới sông mình nè! Một đời người mới có một lần. 
Dưới sông, Tư Hoạch ngồi trên xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát. 
Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư Hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng...
                                                                                   (Hương rừng Cà Mau- Sơn Nam)
Văn bản 3:
 Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ 
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi 
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! 
                              (Quê hương- Tế Hanh)
Văn bản 4:
Âm nhạc là một nghệ thuật gắn bó với con người từ khi lọt lòng mẹ cho tới khi từ biệt cuộc đời. Ngay từ lúc chào đời, em bé đã được ôm ấp trong lời ru nhẹ nhàng của người mẹ. lớn lên với những bài đồng dao, trưởng thành với những điệu hò lao động, những khúc tình ca vui buồn với biết bao sinh hoạt nghệ thuật ca hát từ thôn xóm đến thành thị. Người Việt Nam chúng ta cho tới lúc hết cuộc đời vẫn còn tiếng nhạc vẳng theo với những diệu hò đưa linh hay điệu kèn đưa đám.
  (Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc,
NXB Thanh niên, Hà Nội, 1982)

Văn bản 5:
Sống xa gia đình, xa Tổ quốc, chúng tôi mong thư nhà như “trẻ mong mẹ đi chợ về”. Nhưng mỗi lần người đưa thư đến, bên cạnh niềm vui là sự xấu hổ. Những lá thư từ quê nhà gửi sang đủ loại. Cái to cái nhỏ, cái giấy trắng, cái giấy đen. Nhiều bì thư được dán bằng giấy vở học sinh nhem nhuốc. nhiều trường hợp tem dán kín cả hai mặt bì thư.
Công nhân bạn hỏi  chúng tôi: “Ở nước các bạn  không có nhà máy in bao thư ư?” Chúng tôi đỏ mặt.
Đề nghị ngành bưu điện nên phát hành loại bì thư in sẵn tem như nước các bạn thường làm.
                                                                                (Võ Hoài Nam)
Văn bản 6:
   Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? 
                                   (Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu)





Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Đề thi 120 phút- Chủ đề Văn xuôi hiện đại VN lớp 12

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ 1
CHỦ ĐỀ VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 12
Thời gian làm bài: 120 phút
MỨC ĐỘ

CHỦ ĐỀ
NHẬN BIẾT
THÔNG HIỂU
VẬN DỤNG
TỔNG SỐ
Thấp
Cao
1. Đọc hiểu
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)
Nhận diện phương thức biểu đạt của văn bản
Nêu nội dung chính của văn bản gắn với phương thức biểu đạt
Phân tích và Hiểu tác dụng của hình thức nghệ thuật được sử dụng trong văn bản
Viết đoạn trình bày cảm nhận của bản thân về ý nghĩa 1 chi tiết, 1 hình ảnh trong văn bản

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ
1
10%

1
1.0
10%
1
1.0
10%
3
3.0
30%
2. Làm văn
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)



Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kỹ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận về một nhân vật văn học kết hợp với vấn đề xã hội

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ



1
7.0
70%
1
7.0
70%
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỷ lệ
1
1.0
10%
1
1.0
10%
2
8.0
80%
4
10.0
100%

Ghi chú: văn bản trích dẫn của phần đọc hiểu và làm văn không liên quan với nhau.


_____________________________-



ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 - NĂM HỌC 2014 - 2015
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 12
Thời gian làm bài: 120 phút
__________________

I.              ĐỌC HIỂU:(3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
       …“ Tôi về Thành Trung vào đầu xuân. Làng Châu Hoá đang rộ mùa rau trái, khí đất hùng hậu, hương đất nồng nàn tưởng như nhìn là thấy được. Trong đêm khuya, chưa bao giờ tôi được nghe một mùi đất thơm đến vậy, xao xuyến như da thịt, sâu  thẳm như thời gian. Chính lúc ấy, tôi liên tưởng đến sông Hương với cái tên gợi cảm của nó; Sông Hương như hiện thân thành một cô gái thần tiên trong truyện cổ nào thuỳ mị đứng bên tôi, nghe tôi hỏi giọng bồi hồi: - Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như thế này: con  người  đã đặt tên cho  dòng   sông như nhà  thơ chọn  bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử.”
                              (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường)
1.     1. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.
2.    2.  Gọi tên hai biện pháp tu từ và nêu hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ đó.
3.   3.   Viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) trình bày ý nghĩa chi tiết “con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi”
II. LÀM VĂN: (7 điểm)   
Phân tích vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân để thấy được vẻ đẹp của con người lao động Tây Bắc. Từ đó, anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm của người lao động trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
-----Hết-----


Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Đề KT 15 phút: TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU

TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU
     Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ, giận mẹ nhưng không thể xúc phạm một cách trực tiếp, cậu chạy đến một thung lũng cạnh một khu rừng rậm. Cậu lấy hết sức mình và thét lên: "Tôi ghét người". Cậu ngạc nhiên vô cùng vì từ khu rừng có tiếng vọng lại: "Tôi ghét người". Cậu hoảng hốt quay về với mẹ và khóc nức nở. Cậu không thể hiểu được từ trong rừng đã có người thù ghét cậu.
   Người mẹ nắm tay đưa cậu trở lại khu rừng và bảo cậu hãy hét lên: "Tôi yêu người". Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì cũng có người nói vọng lại: "Tôi yêu người". Lúc đó người mẹ mới giải thích cho cậu như sau: "Con ơi, đó là định luật  trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì người đó gặt bão. Nếu con thù ghét người, thì người cũng sẽ thù ghét con. Nếu con yêu thương người, thì người cũng sẽ yêu thương con".
Hận thù lúc nào cũng kéo theo hận thù, bạo động lúc nào cũng sinh ra bạo động. Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu. Bạo động và hận thù không thể là phương thế để cải tạo xã hội. Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người. Bạn hãy sống cao thượng. Bạn hãy lấy tình yêu để đáp trả lại hận thù. Tiếng vọng cao đẹp nhất của một nghĩa cử yêu thương lúc nào cũng là tiếng vọng của bình an tự trong đáy tâm hồn chúng ta.
                     (Theo Trí Quyển -  Quà tặng cuộc sống – NXB Trẻ TP HCM, 2006)
Câu 1.
Nội dung chính của văn bản trên là gì?
.................................................................................................................................................
Câu 2.
            Ý nghĩa của câu chuyện trên được rút ra từ một tình huống truyện độc đáo, đó là tình huống  nào?
…………………………………………………………………………………..…….……
Câu 3.
Văn bản trên có sự kết hợp những phương thức biểu đạt nào? Đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thể hiện của văn bản trên là gì?
........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Câu 4.
            Viết lại câu sau bằng cách chuyển từ ngữ in đậm thành khởi ngữ: “Chỉ có tình yêu đích thực mới cải đổi được lòng người”
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Câu 5: 
 Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về ý nghĩa của câu văn:“Chỉ có tình yêu mới làm phát sinh tình yêu”.
....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................


Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

ĐỀ TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM



 

ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 2 - NĂM HỌC 2014 - 2015
Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
( Không tính thời gian phát đề)
Phần I. Đọc – hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói nói chuyện với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho voi dừng lại để cùng xem. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi. Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau.
Thầy sờ vòi bảo:
- Tưởng con voi nó thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.
Thầy sờ ngà bảo:
- Không phải! Nó dài dài như cái đòn càn.
Thầy sờ tai bảo:
- Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.
Thầy sờ chân cãi:
- Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột đình.
Thầy sờ đuôi lại nói:
- Các thầy nói sai cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.
Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau toạc đầu chảy máu.
Câu 1. (1 điểm)
Đặt tên và xác định các phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. (1 điểm)
Xác định và nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản.
Câu 3. (3 điểm)
 Viết văn bản tóm tắt câu chuyện trên.
Phần II. Làm văn (5 điểm)
Câu 4: Hãy hóa thân vào nhân vật Tấm  kể lại truyện cổ tíchTấm Cám. Từ đó rút ra bài học về hành trình đi tìm và gìn giữ hạnh phúc.

---HẾT---