Hiển thị các bài đăng có nhãn 7.Chiếc thuyền ngoài xa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 7.Chiếc thuyền ngoài xa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Thi THPT Quốc gia 2015

ĐỀ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2015
MÔN THI: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
            Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:
                        Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời
                        Cho biển cả không còn hoang lạnh
                        Đứa ở đồng chua
                        Đứa vùng đất mạn
                        Chia nhau nỗi nhớ nhà
                        Hoàng hôn tím ngát xa khơi
                        Chia nhau tin vui
                        Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát
                        Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt
                        Hắt lên chúng tôi nhếch nhoáng vàng
                        Chúng tôi coi thường gian nan
                        Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập
                        Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn
                        Ngày mai đảo sẽ nhô lên
                        Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền
                        Hoàng Sa, Trường Sa
                        Những quần đảo long lanh như ngọc dát
                        Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát
                        Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi
                        Đảo à, đảo ơi!
                                                                                Đảo Thuyền Chài, 4-1982
                                                (Trích Hát về một hòn đảo- Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr51)
Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long lanh như ngọc dát.
Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
            Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:
            Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất,… có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trong thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ. Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.
(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr36-37)
Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?
Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?
Câu 8. Anh/ Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (3,0 điểm)
            Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.
            Anh/ Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.
Câu 2 (4,0 điểm)
            Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
            - Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
            - Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
            - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
            - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi.
            - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
            - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không?- Tôi hỏi.
            - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
            - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
            - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
            - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu – bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?
            - Phải- Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
            Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
            - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.
            - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi.
            - Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.75-76)
            Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Truyện hiện đại Việt Nam sau 1975


TẬP HUẤN ĐỔI MỚI DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
 THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC .
Chủ đề: Truyện ngắn Việt Nam sau 1975

CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
- Hiểu được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn sau 1975.
- Hiểu được một số đặc điểm của truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
- Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm truyện ngắn theo đặc trưng thể loại.
- Biết vận dụng những tri thức và kĩ năng đã học vào làm văn nghị luận.

HÌNH THÀNH NĂNG LỰC:
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản.
- Năng lực đọc - hiểu truyện ngắn hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại.
- Năng lực trình bày suy nghĩ cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
- Năng lực họp tác khi trao đổi thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.


BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC.

Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
- Nêu thông tin về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, thể loại,...
- Lí giải được mối quan hệ/ảnh hưởng của hoàn cảnh sáng tác với việc thể xây dựng cốt truyện và thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
- Vận dụng hiểu biết về tác giả, tác phẩm để phân tích, lý giải giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

- So sánh các phương diện nội dung, nghệ thuật giữa các tác phẩm cùng đề tài hoặc thể loại; phong cách tác giả.

- Nhận diện ngôi kể, trình tự kể.
- Hiểu được ảnh hưởng của giọng kể đối với việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
- Khái quát đặc điểm phong cách của tác giả từ tác phẩm.
- Trình bày những kiến giải riêng, phát hiện sáng tạo về văn bản.

- Nắm được cốt truyện, đề tài, cảm hứng chủ đạo.
- Lý giải sự phát triển của các sự kiện và mối quan hệ của các sự kiện.

- Chỉ ra các biểu hiện và khái quát các đặc điểm của thể loại, nội dung từ tác phẩm sau 1975
- Biết tự đọc và khám phá các giá trị của một văn bản mới cùng thể loại.
- Nhận diện hệ thống nhân vật (xác định được nhân vật trung tâm, chính, phụ..)
- Giải thích, phân tích đặc điểm về ngoại hình, tính cách, số phận nhân vật. Khái quát được về nhân vật.
- Trình bày cảm nhận về tác phẩm.
- Vận dụng tri thức đọc hiểu văn bản để kiến tạo những giá trị sống của cá nhân.
(Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ sự học tập nội dung của VB đã đọc hiểu).
- Phát hiện và nêu tình huống
- Phân tích được ý nghĩa của tình huống truyện.
- Thuyết trình về tác phẩm.
- Chuyển thể văn bản (vẽ tranh, đóng kịch…)


- Lí giải ý nghĩa và tác dụng của các từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết nghệ thuật, biện pháp tu từ




Câu hỏi ĐT, ĐL:
- Trắc nghiệm KQ (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, chi tiết nghệ thuật,…)
- Câu tự luận trả lời ngắn (lí giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá,…)
- Bài nghị luận (trình bày suy nghĩ, cảm nhận, kiến giải riêng của cá nhân,..)
- Phiếu quan sát làm việc nhóm (trao đổi, thảo luận về các giá trị của tác phẩm,..)
Bài tập thực hành:
- Hồ sơ (tập hợp các sản phẩm thực hành)
- Bài tập dự án (nghiên cứu so sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề…)
- Bài trình bày miệng (thuyết trình, đọc diễn cảm, kể chuyện sáng tạo, trao đổi thảo luận…)



CÂU HỎI, BÀI TẬP MINH HOẠ
VĂN BẢN: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (Nguyễn Minh Châu)

Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
- Nêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm.
- Xác định ngôi kể trong truyện.
- Xác định nhân vật trung tâm của truyện.
- Nêu tình huống của truyện.
- Liệt kê các chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa trong truyện.


- Phân tích tình huống truyện.
- Cảm nhận về một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong truyện.
- Lí giải tâm trạng của nhân vật:
·         Phùng trong truyện khi phát hiện bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống.
·         Người đàn bà hàng chài.
- Phân tích câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện và ý nghĩa câu chuyện
- ý nghĩa nhan đề của truyện.
- Ấn tượng sâu đậm nhất về nhân vật người đàn bà hàng chài.
- Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu thông qua những phát hiện của nhân vật Phùng.
- Phân tích giá trị hiện thực và tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nguyễn Minh Châu.
- Nhân vật người đàn bà hàng chài  đã gợi cho anh/chị nghĩ đến nhân vật người phụ nữ nào trong văn học. Từ đó anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của người phụ nữ trong gia đình.  
- Đặt mình trong hoàn cảnh của người đàn bà hàng chài, anh/chị hãy nêu cách ứng xử của mình.





Ma trận đề kiểm tra
Thời gian làm bài: 90 phút
Mức độ

Chủ đề
Biết
Hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
Tổng số
I. Đọc hiểu


(Một người Hà Nội)
Nhận biết đối tượng mô tả.
Giải thích ý nghĩa chi tiết.
Hiểu tác dụng của hình thức nghệ thuật được sử dụng trong văn bản.

Liên hệ thực tế đời sống.

Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
1
0,5
5%
1
0,5
5%
1
1,0
10%
1
1,0
10%
4
3,0
10%
II. Làm văn:

(Chiếc thuyền ngoài xa)




Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận về một nhân vật văn học kết hợp với vấn đề xã hội.

Số câu
Số điểm
Tỉ lệ



1
7,0

70%
1
7,0

70%
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ
1
0,5
5%
1
0,5
5%
1
1,0
10%
3
8,0
80%
5
10,0
100%
                                                  
                                                Đề kiểm tra
Chủ đề: Truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Thời gian làm bài: 90 phút
Phần I – Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc văn bản và trả lời câu hỏi cho bên dưới:
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI (Trích)
                                                                                       Nguyễn Khải
“…Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn luôn là thời vàng son. Mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi lứa tuổi. Cô nói với tôi thế, đã biết nói thế đâu phải đã già. Mấy ngày sau, cô kể tiếp, thành phố cho máy cẩu tới đặt bên kia bờ quàng dây tời vào thân cây si rồi kéo dần lên, mỗi ngày một tí. Sau một tháng, cây lại sống, lại trổ ra lá non, vẫn là cây si của nhiều thế hệ Hà Nội, nghĩ cứ lạ, tưởng là chết đứt bổ ra làm củi, mà lại sống. Cô nói thêm: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”. Cô muốn mở rộng sự tính toán vốn dĩ đã rất khôn ngoan của mình lên thêm một tầng nữa chăng, cái tầng vô hình, không thể biết, nhưng phải biết trên đời này còn có nhiều lí sự không thể biết để khỏi bị bó vào những cái có thể biết. Bà già vẫn giỏi quá, bà hiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi chìm sâu vào lớp đất cổ. Những bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng!"
                                                                             Ngày 19- 1- 1990
                             ( Theo Hà Nội trong mắt tôi, NXB Hà Nội, 1995)

Câu hỏi 1: Đoạn trích trên chủ yếu đề cập đến nhân vật nào?
A.   Nguyễn Khải
B.   Đám đông những người Hà Nội
C.   Nhân vật “Cô”
D.   Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 1
 Mức đầy đủ
Mã 0,5: Phương án C
Mức không tính điểm
Mã 0: Các phương án khác
Mã 9: Không trả lời
Câu hỏi 2: Chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 2
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng phát hiện ý nghĩa hàm ẩn
Mức đầy đủ
Mã 0,5 : Đảm bảo 02 trong các ý sau:
·        Sức sống mãnh liệt của thiên nhiên;
·        Biểu tượng cho vẻ đẹp bất diệt của phẩm chất người Hà Nội xưa;
·        Niềm tin, lạc quan vào sự phục hồi những giá trị tinh thần của Hà Nội.
·        Hoặc một ý nghĩa khác hợp lí...
Mức không đầy đủ: 0.25 1 ý
Mức không tính điểm
Mã 0: câu trả lời chưa hợp lí, mơ hồ.
Mã 9: Không trả lời
Câu hỏi 3: Xác định ý nghĩa hình ảnh ẩn dụ "Hạt bụi vàng" trong câu: "Những bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng!"
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 3
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu ý nghĩa của văn bản.
Mức đầy đủ
Mã 1: Chỉ cần đạt 2/4 ý sau:
·        Hình ảnh "Hạt bụi vàng" nhỏ bé, khiêm nhường mà cao đẹp quý báu.
·        Là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp tâm hồn người Hà Nội.
·        Thể hiện niềm trân trọng tự hào của tác giả về phẩm cách người Hà Nội.
·        Hình ảnh "Hạt bụi vàng" là hình ảnh ẩn dụ có sự đối lập mà thống nhất giữa thân phận và giá trị.
·        Hoặc một ý nghĩa khác hợp lí...
Mức không đầy đủ
Mã 0,5: chỉ trả lời được 1/4 ý trên.
Mức không tính điểm
Mã 0: Có câu trả lời không hợp lí, mơ hồ.
Mã 9: Không trả lời

Câu hỏi 4:  "Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn luôn là thời vàng son."
Anh/ chị có cùng suy nghĩ như vậy không? Viết một đoạn văn khoảng 10 câu lí giải về ý kiến của mình.
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 4
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng thể hiện cách hiểu và cảm nhận của HS về lời bình luận của người kể chuyện.
Mức đầy đủ
 Mã 1: Bài làm của HS đạt được những yêu cầu sau:
-         Tạo lập được đoạn văn, đảm bảo logic về ý.
-         Diễn đạt sáng rõ, đúng chính tả
-         Thể hiện được ý kiến của bản thân và có cách lí giải phù hợp.
Mức chưa đầy đủ:
Mã 0,5: Viết được đoạn văn, trình bày được một số ý, nhưng chưa thật đầy đủ, sâu sắc; Chỉ viết được 1 vài câu, ý sơ sài
Mức không tính điểm
Mã 0: Viết sai lạc nội dung.
Mã 9: Không trả lời

Phần II - Làm văn (7 điểm)
          Qua việc phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh/chị hãy trình suy nghĩ của mình về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.

1. Yêu cầu về kĩ năng
-Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội;
- Vận dụng tốt các thao tác lập luận;
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp;
- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.
2. Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở hiểu biết về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và đoạn trích trong SGK Ngữ văn 12, thí sinh có thể viết về nhân vật người đàn bà hàng chài và trình bày suy nghĩ của bản thân về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam theo những cách khác nhau, nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:
2.1. Nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích từ tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu:
* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
* Nhân vật người đàn bà trong đoạn trích:
- Nội dung:
·        Giới thiệu nhân vật (ngoại hình, hoàn cảnh..)
·        Nỗi đau thể xác, nỗi đau tinh thần
·        Vẻ đẹp trong tâm hồn (Thương con, thấu hiểu lẽ đời, trân trọng những hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, cam chịu, giàu đức hi sinh, vị tha..)
- Nghệ thuật: xây dựng nhân vật qua tình huống độc đáo; ngôn ngữ linh hoạt, sáng tạo góp phần làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
2.2. Thí sinh bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề: vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.

3. Cách cho điểm
- Điểm 6 - 7: Viết về nhân vật người đàn bà hàng chài một cách thuyết phục, bày tỏ được suy nghĩ sâu sắc của bản thân vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc và sáng tạo; có thể còn vài sai sót về chính tả, dùng từ.
- Điểm 4 - 5: Cơ bản làm rõ được những đặc điểm của nhân vật, nêu được suy nghĩ của mình về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay. Bố cục rõ ràng, lập luận tương đối chặt chẽ; còn mắc một số lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 2 - 3: Chưa làm rõ được nhân vật; phần bày tỏ suy nghĩ của bản thân về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay còn sơ sài; mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Điểm 1: Chưa hiểu đề; sai lạc kiến thức; mắc rất nhiều lỗi về diễn đạt.
- Điểm 0: Không làm bài hoặc hoàn toàn lạc đề.
(Lưu ý: Điểm tối đa của phần 2.2 là 2,0 điểm).   
ĐOÀN TP.HCM