Hiển thị các bài đăng có nhãn Cách làm bài thi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cách làm bài thi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

BGD HƯỚNG DẪN VỀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN CỦA HỌC SINH

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                               --------------------------
*Đánh giá kĩ năng viết của HS: 
HS ở cấp THPT có thể tạo lập được VB theo những phương thức khác nhau, đặc biệt là có thể viết được các bài văn nghị luận (về xã hội hoặc văn học), nêu được quan điểm, tư tưởng riêng của mình về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức thuyết phục. Tuy nhiên, do cách ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng kiến thức văn học, nên các đề kiểm tra viết hiện nay chưa tạo điều kiện cho HS phát biểu những suy nghĩ riêng, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình.
             -  Cần đổi mới cách thức đánh giá kĩ năng viết của HS bằng cách ra đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên môn). Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lôgic trong quá trình đi đến câu trả lời. 
             - Trong quá trình làm bài, HS cần vận dụng các kiến thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học cũng như kiến thức liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,...) để giải quyết vấn đề mà đề bài nêu ra. 
             - Đáp án không áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án mà HS có thể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng thời, nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến khích HS sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau miễn là tư tưởng của người viết không đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã quy định;
            -Khuyến khích HS vận dụng được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách có sức thuyết phục, hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em.
                      Cũng như KTĐG kĩ năng ĐH, đánh giá kĩ năng viết của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
                  Cần coi các biểu hiện của kĩ năng viết đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng viết của HS.
* KN viết của HS bao gồm các yêu cầu sau:
- Cần xây dựng cho mình thái độ sẵn sàng và những hiểu biết về kĩ thuật viết (văn phong) để viết một cách chính xác và trôi chảy, lưu loát.
- Nội dung thể hiện:
+ Đề xuất và lựa chọn các ý tưởng cho bài viết; trình bày cho phù hợp với các mục đích, đối tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
+ Lập dàn ý bằng cách xác định mục đích, đối tượng và ngữ cảnh (trong đó xác định cách thể hiện và giọng điệu), đặt ra mục tiêu cho các nhiệm vụ của bài viết hoặc các chủ đề.
+ Kích thích trí tưởng tượng, tạo ra hoặc thu thập những ý tưởng phù hợp với các nhiệm vụ của bài viết hoặc chủ đề; đưa ra những câu hỏi về các chủ đề; nghiên cứu các bài mẫu; suy nghĩ và và mô tả những cảm xúc, quan điểm hoặc ý tưởng của cá nhân…
+ Thu thập, đánh giá, lựa chọn và tổng hợp tài liệu phù hợp với mục đích của bài viết, nhu cầu/mong muốn của người đọc và bối cảnh giao tiếp.
+ Phát triển, tổ chức và thể hiện ý tưởng, quan điểm mạch lạc, chặt chẽ bằng văn bản để đáp ứng nhiều mục đích, đối tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
*Ở cấp độ văn bản:
+ Tổ chức các sự kiện, ý tưởng và/hoặc quan điểm một cách phù hợp với phương thức tạo lập văn bản, mục đích và đối tượng mà VB hướng tới.
+ Sắp xếp các các chi tiết và ví dụ để hỗ trợ/minh họa cho các nội dung chính của một VB cho phù hợp với mục đích, đối tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
+ Tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của VB bằng cách: lựa chọn mô hình tổ chức/bố cục phù hợp với mục đích, đối tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp (theo trình tự thời gian, theo hình thức phân loại, theo thứ tự ưu tiên/tầm quan trọng, theo mối quan hệ nhân quả, theo mối quan hệ so sánh và đối lập…), sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ (các phương tiện liên kết) để giúp người đọc theo dõi được sự phát triển của các ý tưởng hoặc mạch lập luận.
+ Sử dụng các chiến lược hỗ trợ (ví dụ: những câu chuyện, các ý kiến của chuyên gia…) để: hỗ trợ quan điểm/hành động mà người viết đề xuất trong VB để thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm/hành động ấy; giải quyết những mối quan tâm, mong đợi của độc giả về quan điểm hoặc hành động của người viết…
**Ở cấp độ đoạn văn:
+ Sử dụng một câu chủ đề để giới thiệu ý tưởng chính trong một đoạn văn.
+ Giải thích và/hoặc làm rõ ý tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan.
+ Sử dụng các phương tiện/phép liên kết phù hợp (ví dụ: phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) để: chỉ ra mối quan hệ giữa các đoạn/câu khác nhau và giữa các ý chính trong một đoạn; thể hiện chức năng của một đoạn văn trong mối liên quan với các phần khác của VB.
+ Lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ cho hiệu quả, phù hợp với nội dung, mục đích của đoạn văn. Thuyết phục người đọc chấp nhận quan điểm/hành động của người viết thông qua các yếu tố như: độ dài của câu, cấu trúc câu, mẫu câu, từ vựng, biện pháp tu từ, vần điệu,…
+ Nhắc lại nội dung/ý tưởng chính trong phần kết đoạn.
-  Rà soát và chỉnh sửa để hoàn thiện bài viết .
Mục đích của rà soát, chỉnh sửa là tạo ra một VB hoàn chỉnh để đạt được mục đích của người viết, đáp ứng nhu cầu của người đọc, phù hợp với bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
Rà soát và điều chỉnh lại bài viết để nâng cao tính phù hợp, tập trung, trong sáng và đạt được độ chính xác trong việc chuyển tải ý nghĩa. HS có thể tự mình rà soát, điều chỉnh hoặc cần đến sự giúp đỡ của giáo viên, bạn bè để: xác định cách diễn đạt hoặc ý tưởng/quan điểm không phù hợp với người đọc và bối cảnh giao tiếp; thay thế, thêm, xóa và/hoặc sắp xếp lại từ, cụm từ, câu, sự kiện, ý tưởng, chi tiết, quan điểm; thay đổi trình tự sắp xếp các sự kiện, ý tưởng, chi tiết trong hoặc giữa các đoạn…
        * Vận dụng/thực hành viết một loạt các VB cho các mục đích khác nhau.
- Tất cả HS trung học phổ thông đều phải sử dụng các kĩ năng viết nêu trên trong quá trình làm văn. Đây cũng là chuẩn viết cần đạt của HS trung học phổ thông.
- GV có thể sử dụng các ngữ liệu là những văn bản trong SGK hoặc các VB ngoài SGK nhưng có cùng thể loại, đề tài hoặc chủ đề với các VB mà HS đã được học; cũng có thể lấy các VB được viết theo những phong cách ngôn ngữ mà HS đã học (như phong cách ngôn ngữ báo chí, chính luận, khoa học, nghệ thuật…) để thiết kế các câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra để rèn luyện và đánh giá kĩ năng đọc hiểu VB và kĩ năng viết của HS. 
- Để đánh giá kĩ năng viết của HS, cần tăng cường ra các câu hỏi/đề kiểm tra theo hướng mở, với những nội dung gắn với cuộc sống thực tiễn, với những trải nghiệm của HS, giúp HS vận dụng được những kiến thức sách vở và cuộc sống để trình bày những ý tưởng, cảm nhận, suy nghĩ sáng tạo về những vấn đề xã hội hoặc văn học.

- Cùng với bộ công cụ, cần xây dựng được hướng dẫn chấm đảm bảo tính khoa học và chính xác. 
+Hiện nay cách xây dựng hướng dẫn chấm có thể theo điểm số hoặc theo mã hóa câu trả lời (theo hướng PISA). 
+Đối với bộ công cụ là các câu hỏi mở, một trong những cách chấm điểm là xây dựng rubric, đó là một tập hợp các tiêu chí và minh chứng xác định các cách trả lời câu hỏi của HS cùng với những chỉ số thực hiện đối với mỗi kết quả được quy định ở một mức chuẩn cụ thể. Những chỉ số này được trình bày rõ ràng để tất cả mọi người có thể hiểu HS cần phải làm gì, kết quả ra sao và minh chứng được kết quả học tập ở mỗi một mức độ (tốt, khá, trung bình hay không đạt). Việc chấm điểm theo rubric cung cấp những thông tin cụ thể, xác thực giúp cho việc phân tích, xử lí kết quả đánh giá được chính xác, khách quan.

BGD HƯỚNG DẪN VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                                                          -------------------------------
3. Về đọc hiểu văn bản: Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về VB.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b)  Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết, biện pháp tu từ...  trong VB.
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ, đồ thị… (nếu có).
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản.
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được đưa ra.
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản.
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các nhân vật).
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp.
+  Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết...
-  Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết.
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử dụng).
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với  các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…).
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó.
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.
+ Đọc các văn bản khác (ngoài CT, SGK) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu.
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi từ nội dung của văn bản đã đọc hiểu.
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra. Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm của đối tượng từ góc độ cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng, ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ, trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc trình bày ra những ý tưởng, giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiễn… Viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, do vậy cần tạo ra được những cơ hội để HS thể hiện ngay trong quá trình dạy học đọc hiểu để HS đồng thời phát triển các năng lực trong học tập.
4. Đánh giá kĩ năng đọc trong môn Ngữ văn
Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn hiện nay là đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS. Việc đánh giá kĩ năng nghe và nói của môn học này chưa được đề cập đến nhiều trong các nội dung học tập. Do vậy tài liệu chủ yếu trình bày những nội dung về đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS trong môn học này.
a) Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của HS: ở trường THPT, kĩ năng đọc hiểu (ĐH) rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK hiện nay là bài học về VB văn  học. Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc ĐH và cảm thụ lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá VB. Hơn nữa, VB được ĐH chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật dụng được đưa vào CT, SGK. Việc đánh giá kĩ năng đọc của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của VB đã học). Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu các loại VB khác nhau của người học.
Vì vậy, cần đổi mới đánh giá kĩ năng ĐH của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. Các câu hỏi đánh giá kĩ năng ĐH và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp.
Đánh giá kĩ năng ĐH của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của kĩ năng đọc đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng đọc hiểu của HS. Ngoài ra, có thể vận dụng 6 mức độ mà Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã nêu để đánh giá kĩ năng ĐH của HS như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều VB và có thể tích hợp thông tin từ nhiều VB. Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của VB. Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một VB có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về VB. Một điều kiện quan trọng đối với phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ trong VB.
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong VB. Các nhiệm vụ phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giải và phản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một VB có nội dung hoặc hình thức mới (không được in trong SGK – chúng tôi nhấn mạnh). Đối với tất cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường.
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong VB. Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của VB. Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một VB. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một VB dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc.
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin. Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một VB để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ.  Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ VB, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết)  trái với kỳ vọng/suy nghĩ thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của VB. Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của VB liên quan đến tri thức hàng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết VB, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến ​​thức ít phổ biến hơn.
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một VB, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích ý nghĩa của một phần của VB được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của VB. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các VB và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân.
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một VB về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các VB và kiến thức thông thường hàng ngày. Thông thường các thông tin cần thiết trong VB là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong VB.
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một VB đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một VB tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các VB thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau.
Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ 6, 5, 4 bao gồm việc hiểu VB được học, vận dụng vào đọc VB mới; các mức độ còn lại áp dụng với những VB được học hoặc quen thuộc với người đọc.

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Ôn thi môn Văn không học văn mẫu

04/06/2015 15:12 GMT+7
TTO - Cô Lê Thị Tuyết Anh - giáo viên Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP.HCM - dặn dò như vậy khi học và ôn thi môn văn.
Thí sinh dự thi vào Trường ĐH Luật TP.HCM năm 2014 - Ảnh: Trần Huỳnh
Thí sinh dự thi vào Trường ĐH Luật TP.HCM năm 2014 - Ảnh: Trần Huỳnh
Theo quyết định của Bộ GD-ĐT, năm học 2014-2015 này là năm đầu tiên học sinh cuối bậc THPT chỉ thi một kỳ thi quốc gia và dùng kết quả kỳ thi này để xét tuyển sinh ĐH. Cũng theo thông tin của Bộ GD-ĐT, cấu trúc đề thi các môn sẽ giống cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT và đề thi tuyển sinh ĐH năm trước. Vì thế đề thi môn văn sẽ có ba phần: đọc hiểu, nghị luận xã hội, nghị luận văn học
Với yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh, đề thi sẽ theo bốn cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao. Vì thế các em cần ôn luyện kiến thức theo ba phần sau:
1. Phần đọc hiểu
Ngữ liệu sẽ là văn bản nhật dụng, thơ hoặc văn xuôi trong sách giáo khoa (SGK) hoặc ngoài SGK với nhiều câu hỏi xoay quanh những kiến thức như:
- Xác định nội dung văn bản;
- Chỉ ra các phương thức biểu đạt của văn bản (miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính - công vụ);
- Nêu phong cách ngôn ngữ (PCNN) được sử dụng trong văn bản và lý giải. Đó là các PCNN sinh hoạt, PCNN nghệ thuật, PCNN khoa học, PCNN hành chính, PCNN báo chí, PCNN chính luận;
- Phân tích các phép liên kết trong văn bản;
- Chỉ ra các biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, các phép điệp…)   và nêu ý nghĩa hoặc hiệu quả biểu đạt của nó;
- Xác định các loại từ như từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình… và nêu ý nghĩa của từ;
- Ý nghĩa biểu cảm của nhịp thơ, giọng thơ;
-  Lý giải về một vấn đề đặt ra trong văn bản….
Ví dụ:     
                        Trời xanh đây là của chúng ta
                        Núi rừng đây là của chúng ta
                        Những cánh đồng thơm mát
                        Những ngả đường bát ngát
                        Những dòng sông đỏ nặng phù sa
                        Nước chúng ta
                        Nước những người chưa bao giờ khuất
                        Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
                        Những buổi ngày xưa vọng nói về
                                             (Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:
1. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả. (0,5 điểm)
2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy "rì rầm" trong đoạn thơ (0,5 điểm)
3. Xác định các dạng của phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng? (1 điểm) (Trích đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2014)           
* Phương pháp làm bài:
- Nên đọc hệ thống câu hỏi trước để biết đề yêu cầu những gì để các em có định hướng đọc văn bản. Sau đó đọc qua văn bản một lần rồi mới vừa đọc vừa trả lời theo câu hỏi. Cách đọc như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và trả lời đúng trọng tâm.
- Không làm thành bài văn mà bám sát theo câu hỏi, trả lời từng câu, từng phần.
* Những điều cần lưu ý:
- Cần trang bị, ôn luyện và thường xuyên thực hành những kiến thức trên để tránh nhầm lẫn giữa PCNN và phương thức biểu đạt; giữa PCNN này với PCNN khác…
- Trong một văn bản có thể có nhiều phương thức biểu đạt và nhiều PCNN. Vấn đề ở đây là thí sinh cần lý giải cho đúng.
- Để lý giải văn bản ấy thuộc PCNN nào cần phải dựa vào nội dung văn bản và đặc trưng PCNN, còn nguồn dẫn chỉ là  một yếu tố nhỏ để  tham khảo. Nhiều thí sinh chỉ căn cứ vào nguồn dẫn này để lý giải nên câu trả lời thiếu chính xác.
- Để xác định những nội dung trong văn bản, thí sinh cần đọc kỹ và tóm tắt ngắn gọn tất cả những ý chính trong văn bản, nếu chỉ nêu một nội dung sẽ bị mất điểm đấy!
- Để nêu ý nghĩa tác dụng (hoặc hiệu quả biểu đạt) của một biện pháp tu từ nào đó, các em cần nêu ý nghĩa tác dụng về nội dung và cả về nghệ thuật.  
2. Phần nghị luận xã hội:
Những năm gần đây đề thi không tách rời hai kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý và về một hiện tượng đời sống. Đồng thời, đề thi thường yêu cầu thí sinh bàn về hai ý kiến hay hai khía cạnh ngay trong một nhận định.
Ví dụ: Có ý kiến cho rằng: "Cống hiến hết mình, hưởng thụ tối đa" là phương châm sống tích cực của con người hiện đại, luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh. Anh/chị có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) bày tỏ chủ kiến của mình. (Trích đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2014)
* Phương pháp làm bài:
Thí sinh cần làm bài theo trình tự sau:
- Mở bài: dẫn dắt và giới thiệu yêu cầu đề
- Thân bài: Giải thích hai khía cạnh (hoặc hai ý kiến), chỉ ra  mối quan hệ giữa hai khía cạnh (hoặc hai ý kiến); lần lượt bàn luận từng khía cạnh (hoặc từng ý kiến); rút ra bài học nhận thức và hành động từ hai khía cạnh (hoặc hai ý kiến).
- Kết bài: Đánh giá hai khía cạnh (hoặc hai ý kiến), nêu suy nghĩ của bản thân. 
* Những điều cần lưu ý:
- Cần thể hiện rõ chính kiến của bản thân về vấn đề đặt ra trong đề bài.
- Cần kết hợp lý lẽ và dẫn chứng. Nhất là biết cách phân tích dẫn chứng phù hợp với yêu cầu đề ra.
-  Dẫn chứng phải thuyết phục do tính chọn lọc, cụ thể, điển hình, được rút ra từ thực tế cuộc sống. Không lấy dẫn chứng là các nhân vật văn học vì đó là nhân vật hư cấu hay dẫn chứng không rõ ràng như “bạn em”, “hàng xóm nhà em”, ông N. V.X.,  bà T.T.Y. Nếu thiếu phần dẫn chứng hoặc dẫn chứng không rút ra từ thực tế , bài viết chỉ còn nửa số điểm, tối đa là 1,75 điểm/3 mà thôi.
-  Thao tác bài học nhận thức và hành động phải nằm ở cuối đoạn thân bài chiếm 0,5 điểm /3. Vì vậy thí sinh cần viết cụ thể, chi tiết để hưởng trọn số điểm. Tránh nhập chung thao tác này vào phần kết luận, xem như bài làm thiếu một thao tác ở thân bài, thí sinh sẽ mất  0,5 điểm.
3. Phần nghị luận văn học:
Các em cần nắm vững các tác phẩm và kiến thức trọng tâm trong SGK qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, ghi nhớ và luyện tập ở cuối mỗi bài. Đừng quên thuộc lòng các bài thơ, các dẫn chứng văn xuôi…
* Phương pháp làm bài:
- Phải đọc kỹ đề và nắm vững yêu cầu đề.
-  Cần biết cách nhận định đề, phân biệt các kiểu bài để từ đó vận dụng đúng kỹ năng và các thao tác làm bài, xác định luận điểm phù hợp.
+  Phân tích (hoặc cảm nhận) một đoạn thơ, một đoạn văn;
+  Phân tích theo định hướng;
+  So sánh hai đoạn thơ hoặc hai đoạn văn hay hai nhân vật hoặc hai kết thúc truyện;
+  Bình luận hai ý kiến…
- Ở kiểu bài so sánh, thí sinh cần thực hiện theo trình tự:
+ Mở bài: Giới thiệu cả hai hai tác giả và xác định luận đề - điểm chung của hai vấn đề (hai nhân vật hoặc hai đoạn thơ hoặc hai đoạn văn …).
+ Thân bài: Lần lượt giới thiệu từng tác phẩm và phân tích từng vấn đề cả về nội dung và nghệ thuật; Đánh giá điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng.
+ Kết luận: đánh giá hai vấn đề, hai tác giả.
- Ở kiểu bài bình luận hai ý kiến
+ Với hai ý kiến có tính chất bổ sung, trước tiên thí sinh giải thích cả hai ý kiến, sau đó tách ra phân tích, bàn luận theo từng ý kiến, cuối cùng tổng hợp lại.
Ví dụ: Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp. Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên. (Trích đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2013)
+ Với hai ý kiến có tính chất đối lập - tương phản, thí sinh phải sử dụng thao tác bác bỏ, thuyết phục, định hướng người đọc vào ý kiến đúng. Sau đó phân tích, bình luận ý kiến đúng ấy.
Ví dụ: Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ Vội vàngcủa Xuân Diệu, từng có ý kiến cho rằng: đó là tiếng nói của cái tôi vị kỷ tiêu cực. Lại có ý kiến khẳng định: đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân tích cực. Từ cảm nhận của mình về niềm khát khao đó, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên. (Trích đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2013)
* Những điều cần lưu ý:
-  Tất cả các bài làm phải có luận điểm rõ ràng, hợp lý, bám sát với yêu cầu đề ra, nếu không bài viết sẽ sa vào diễn xuôi hoặc kể chuyện.
-  Ở kiểu bài so sánh, tránh làm thành hai bài văn độc lập như hai mở bài, hai thân bài, hai kết luận. Thí sinh sa vào những trường hợp này chỉ đạt điểm tối đa là 2/5.
- Phải dẫn dắt và đưa nội dung đề ra vào trong phần mở bài, nếu không bài làm sẽ mất 0,5 điểm/5 và rất dễ lạc đề.
- Phần kết bài phải khẳng định lại vấn đề theo nội dung đề ra, khái quát giá trị tác phẩm, phong cách tác giả và vị trí của tác giả trong văn học.
Chúc các em ôn luyện kỹ, tự tin và thi đạt kết quả tốt nhất. Với cách ra đề môn văn những năm gần đây, hãy tin rằng đề thi không bao giờ “làm khó”, “đánh đố” thí sinh mà chỉ phân loại, đánh giá rất chính xác năng lực thí sinh.
Những thí sinh nào vững vàng và biết chủ động về kiến thức, nắm vững phương pháp và kỹ năng làm bài, khả năng lập luận chặt chẽ, diễn đạt gãy gọn, súc tích... sẽ “vượt vũ môn” dễ dàng.  Ngược lại, những thí sinh chỉ quen học thuộc lòng văn mẫu sẽ “thua” đấy, các em ạ.
LÊ THỊ TUYẾT ANH
Giáo viên Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP.HCM