Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặt tên văn bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặt tên văn bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2016

Đọc hiểu văn bản: Lòng yêu nước

Gần đây, những đề thi tự luyện mà cô giáo Trịnh Thu Tuyết đăng trên trang cá nhân đã thu hút đông đảo học sinh quan tâm. Đặc biệt, những câu hỏi đọc – hiểu trong đề thi đều rất hay, đề cập đến những vấn đề thời sự và tác động đến nhận thức của học sinh.
Tiến sĩ Trịnh Thu TuyếtTiến sĩ Trịnh Thu Tuyết
Định kì hàng tuần, cô giáo Trịnh Thu Tuyết (GV Ngữ văn, Hệ thống giáo dục HOCMAI) ra một đề thi hoàn chỉnh để học sinh ôn tập, rèn kĩ năng làm bài. Những câu hỏi đọc – hiểu trong đề thi của cô đề cập đến những vấn đề nhân văn như lòng yêu nước, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mối quan hệ giữa luật pháp và đạo đức con người…
Mới đây nhất, cô Trịnh Thu Tuyết đã dẫn một trích đoạn đã rất quen thuộc với học sinh:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh).
1. Anh/chị hãy đặt tên cho đoạn trích.
2. Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.
3. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để thể hiện lòng yêu nước trong câu "Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" ?
4. Với hai cụm động từ "lướt qua... " và " nhấn chìm...", tác giả đã khẳng định điều gì ở lòng yêu nước? Sự khẳng định đó đã được chứng minh như thế nào trong lịch sử giữ nước oanh liệt của dân tộc?
(Trích đề tự luyện số 3, cô Trịnh Thu Tuyết)
Với đề đọc hiểu này, cô Trịnh Thu Tuyết đưa ra một vài gợi ý để học sinh giành trọn 3 điểm.
Câu hỏi đầu tiên với dạng câu hỏi yêu cầu đặt tên cho đoạn, học sinh có thể trả lời bằng nhiều cách. Học sinh có thể tham khảo cách đặt tên của SGK phổ thông như “tinh thần yêu nước của nhân dân ta”. Trả lời đúng ý này, học sinh được 0.25 điểm.
Câu hỏi thứ 2 yêu cầu học sinh chỉ ra phép liên kết. Học sinh chú ý các từ “ấy”, “đó”, “nó” đều được dùng để thay thế cho “lòng nồng nàn yêu nước”. Từ đó, xác định phép liên kết chủ yếu ở đoạn văn là phép thế. Học sinh cần phải nhấn mạnh phép thế này vừa tránh cách diễn đạt lặp lại, vừa thể hiện sự nhấn mạnh đến chủ đề xuyên suốt trong đoạn văn là chủ đề luận về lòng yêu nước. Học sinh không nên gạch đầu dòng mà nên viết thành một đoạn văn ngắn. Trả lời đúng, đủ câu hỏi này, học sinh được 0.25 điểm.
Câu hỏi 3 yêu cầu học sinh chỉ ra biện pháp nghệ thuật trong câu. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ khi ngầm so sánh sức mạnh của lòng yêu nước với “một làn sóng...”. Biện pháp ẩn dụ vừa thể hiện sự mạnh mẽ, cuộn trào của lòng yêu nước vừa thể hiện được đặc điểm liên hồi, ào ạt, dữ dội của lòng yêu nước mỗi khi đất nước có kẻ thù xâm lược. Bên cạnh đó, nhà văn cũng sử dụng phép điệp trong cấu trúc “nó kết thành... nó lướt qua... nó nhấn chìm...” nhằm nhấn mạnh sức mạnh của lòng yêu nước, tạo nên giọng điệu đanh thép, hùng hồn, sự khẳng định một cách quả quyết. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phép liệt kê trong cả ba vế câu nhằm thể hiện tính chất nhấn mạnh đối với vấn đề được nói tới.
Với câu hỏi này, nếu học sinh chỉ đơn thuần chỉ ra những biện pháp nghệ thuật thì sẽ không đạt điểm tối đa, học sinh cần chỉ ra tác đụng của từng biện pháp nghệ thuật thì mới đạt 0.5 điểm.
Ở ý cuối cùng, hai cụm động từ “lướt qua”  và “nhấn chìm”, tác giả đã khẳng định sức mạnh vô địch của lòng yêu nước đã giúp nhân dân ta có thể vượt qua mọi khó khăn để chiến thắng mọi kẻ thù đe dọa chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Học sinh có thể chứng minh bằng những trang sử hào hùng của dân tộc, từ những cuộc chiến chống Tống, Nguyên, Minh, Thanh... tới hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ..., khi chúng ta là một nước nhỏ nhưng chưa hề khuất phục trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Trả lời trọn vẹn ý này, học sinh đạt 0.5 điểm.
Qua những câu hỏi đọc – hiểu, cô Trịnh Thu Tuyết nhắc nhở, đề thi thường yêu cầu thí sinh vận dụng kiến thức tổng hợp từ tiếng Việt với phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt, phương thức trần thuật, phép liên kết văn bản.... cho đến các kiến thức về văn học sử, kĩ năng cảm thụ, phân tích... để đọc và hiểu một văn bản thơ hoặc văn xuôi.
Với kinh nghiệm nhiều năm nằm trong đội ngũ ra đề và chấm thi đại học, cô Trịnh Thu Tuyết chỉ ra những sai lầm thường gặp khi làm dạng đề này như trả lời sai về kiến thức Tiếng Việt do nhầm lẫn các khái niệm, viết đoạn lan man, không tập trung theo yêu cầu cảm thụ hay phân tích theo yêu cầu của đề; trả lời cụt lủn; trả lời quá dài dòng tốn nhiều thời gian…
Để khắc phục, học sinh phải ôn lại một cách hệ thống các kiến thức tiếng việt từ THCS tới THPT; nắm chắc các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm, về giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm. Khi làm bài, phải lưu ý đáp ứng đúng yêu cầu của từng kiểu câu hỏi trong đề ra, tránh lan man hoặc sơ sài, viết đúng chuẩn mực  của một đoạn văn (không xuống dòng, không gạch đầu dòng...) với các câu yêu cầu viết đoạn).


Video đang được xem nhiều

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Đề thi minh hoạ: 120 phút theo định hướng phát triển năng lực

ĐỀ THI MINH HỌA LỚP 9 - 120 phút
Câu 1(10 điểm)
1.1 (5,0 điểm): Hình ảnh sau gợi cho em nghĩ đến tác phẩm nào đã học trong chương trình Ngữ văn 9? Hãy cho biết tác giả và xuất xứ của tác phẩm ấy.
 a. Mẹ hiền dạy con, Ôn Như Văn Ngọc và Trần Lê Nhân dịch từ Liệt nữ truyện của Trung Quốc.
 b.Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, trong Truyền kì mạn lục.
c.Nói với con của Y Phương, trong Thơ Việt Nam 1945 - 1985.
d. Bếp lửa của Bằng Việt, trong Hương cây – Bếp lửa.
   1.2 (5,0 điểm): Hãy chép chính xác hai câu cuối trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Hai câu thơ ấy cho em biết phẩm chất gì của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn?
 a. Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim. Phẩm chất của người lính lái xe: Yêu nước.
 b. Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi. Phẩm chất của người lính lái xe: dũng cảm, gan dạ.
 c. Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời,nhìn thẳng. Phẩm chất của người lính lái xe: lạc quan, yêu đời.
 d. Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới/ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.Phẩm chất của người lính lái xe: vui tươi, đoàn kết.
 Câu 2 (10 điểm)2.1 (5,0 điểm) Hãy kể tên một phương châm hội thoại đã học. Ghi lại một câu ca dao, tục ngữ liên quan đến phương châm hội thoại ấy.
 2.2 (5,0 điểm) Tìm thành phần phụ chú trong đoạn trích sau và cho biết chúng bổ sung điều gì?
 Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thật sự của đất nước trong thế kỉ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất.  (Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới –Vũ Khoan)
 Câu 3 (10 điểm) Đọc văn bản sau và hoàn thành các yêu cầu bên dưới:
 (…) “Đốt” thời gian trên “phây”

Vừa ra chơi, nhiều nhóm học sinh (HS) trường THPT X (TP.HCM) cùng tụm đầu vào những chiếc điện thoại cài ứng dụng “phây” (Facebook) để "tám" về một trạng thái nào đó được chia sẻ mà nhiều HS quan tâm. Họ cùng bàn luận, phân tích những nội dung, hình ảnh hay những comment (bình luận) mới vừa được đưa lên.
Có bạn còn tranh thủ luôn giờ nghỉ giải lao chỉ vài phút để đưa lên những trạng thái mới hoặc gửi đi phản hồi nào đó ngay trên điện thoại của mình. (…) Ngọc Tuyết cho biết, hôm nào lớp hoặc nhóm có hoạt động, sự kiện chung gì đổ lên Facebook thì nhiều bạn trong lớp đều thức rất khuya để cập nhật, phản hồi liên tục.
“Nhiều hôm em nhắc mình đúng 12 giờ là đi ngủ nhưng lại ráng thêm chút, gửi đi gửi lại thì đã đến 1 - 2 giờ sáng. Lên “phây” là cách “giết” thời gian hiệu nghiệm nhất, mỗi ngày em mất 3 - 4 giờ cho nó”, Tuyết bộc bạch. Không ít HS xem Facebook là nhật ký hàng ngày của mình nên mọi hoạt động ăn chơi, ngủ nghỉ đều cập nhật liên tục. Có em còn dành nhiều thời gian chăm sóc, tỉa tót, chú trọng đến từng bức ảnh, từng nét trang trí… để gây sự chú ý.
Phó hiệu trưởng một trường phổ thông ở Q.3, TPHCM cho hay, nếu cách đây vài năm có một bộ phận học trò đến lớp với tinh thần mệt mỏi, lờ đờ, nằm rạp trên bàn vì nghiện game online thì bây giờ bộ phận này có thêm các em nghiện Facebook, kể cả HS giỏi. Dùng Facebook có thể không nguy hiểm như game online nhưng các em tham gia thiếu kiểm soát thì tốn rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc học và cũng không thích thú với các hoạt động xã hội.
Phải biết làm chủ bản thân
Nhiều phụ huynh đau đầu khi nhìn con mê mẩn “đốt” thời gian với Facebook. Có người phải dùng đến biện pháp mạnh như cắt tiền tiêu của con, cắt internet hay tìm đến các phần mềm ngăn chặn con vào Facebook.
Bà Lê Minh Hoa (chuyên viên đài 1080) cho hay bản thân bà gặp rất nhiều câu hỏi từ các bạn trẻ cho rằng nghiện Facebook là điều không đáng lo ngại nhưng các bạn chưa biết cách làm chủ bản thân. Thường thì khi vào Facebook rồi các bạn dễ bị lôi cuốn theo và quên luôn thời gian nên cần trước hết phải chủ động cài báo thức, hoặc nhờ người thân nhắc nhở mình.
Không phủ nhận những tiện ích của Facebook trong việc chia sẻ, kết nối nhưng ThS. Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (ĐH Sư phạm TPHCM) cho rằng Facebook là một "mê cung" có sức mê hoặc rất lớn mà nếu thiếu kiểm soát thì rất dễ bị lôi cuốn bởi những giá trị ảo. Khi người dùng thiếu tự chủ thì Facebook trở thành “kẻ cắp” thời gian, sức khỏe. Bởi thế, mỗi người phải biết đặt ra những quy tắc như mỗi ngày chỉ vào 1 hay 2 giờ đồng hồ trong khoảng thời gian nào đó nhất định để tạo thành một thói quen.
Đối với phụ huynh, theo các chuyên gia, việc cấm cản kịch liệt con dùng Facebook chưa phải là biện pháp phù hợp mà cần giúp con sử dụng đúng cách, đúng mức vì chúng có những tiện ích không thể phủ nhận. Phụ huynh cần có những quy ước với con trẻ như vào Facebook trong thời gian bao lâu, tránh những phát ngôn về chửi bới, nhục mạ hay bêu xấu người khác, biết chọn lọc những điều hay trên mạng xã hội… Nếu con vi phạm thì áp dụng những cách xử lý hay hình phạt nào để trẻ biết giới hạn của mình.
Đồng thời cha mẹ phải cùng con xây dựng những mục tiêu, công việc cụ thể trong học tập và cuộc sống thì khi đó dù có ham vui nhưng trẻ vẫn hiểu trách nhiệm với bản thân và cả mọi người xung quanh.
(Theo Hoài Nam – Báo Mực Tím online)
 3.1 Văn bản trên chủ yếu đề cập đến vấn đề gì?
 3.2 Hãy chỉ ra một lí do lên facebook của các bạn trẻ trong văn bản trên.
 3.3 Theo bài viết, việc “nghiện” facebook đã gây ra những hậu quả gì?
 3.4 Giải pháp phù hợp mà cha mẹ nên có để giúp con mình không “nghiện” facebook là gì?
 3.5  Em học tập được gì sau khi đọc văn bản trên?
 Câu 4 (10 điểm) Đọc văn bản sau và hoàn thành các yêu cầu bên dưới“Trong sóng có người gọi con:
"Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao".
Con hỏi: "Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được ?".
Họ nói: "Hãy đến rìa biển cả, nhắm nghiền mắt lại, cậu sẽ được làn sóng nâng đi".
Con bảo: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được ?”.
Thế là họ mỉm cười, nhảy múa lướt qua.
Nhưng con biết trò chơi khác hay hơn.
Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ,
Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.”
(Mây và sóng, R.Ta-go, SGK Ngữ Văn 9, tập hai, tr. 87)
 4.1 Chỉ ra một nét đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ trên.
 4.2 Nêu nội dung của đoạn thơ trên.
 4.3 Kể tên một tác phẩm đã học trong chương trình lớp 9 có cùng chủ đề với đoạn thơ trên.
 4.4 Chỉ ra sự khác nhau giữa cuộc vui của những người ở “trong sóng” và trò chơi do em bé tạo ra?
 4.5 Vì sao em bé trong bài thơ cho rằng trò chơi của mình hay hơn cả cuộc vui của những người ở “trong sóng”?
 Câu 5 (10 điểm) Đọc văn bản sau và hoàn thành các yêu cầu bên dưới. “Cháu giới thiệu với bác ông kĩ sư ở vườn rau dưới Sa Pa ! Ngày này sang ngày khác ông ngồi im trong vườn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào. Rồi, để được theo ý mình, tự ông cầm một chiếc que, mỗi ngày chín mười giờ sáng, lúc hoa tung cánh, đi từng cây su hào làm thay cho ong. Hàng vạn cây như vậy. Để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngọt hơn trước. Ông kĩ sư làm cháu thấy cuộc đời đẹp quá. (…) Hay là, đồng chí nghiên cứu khoa học ở cơ quan cháu ở dưới ấy đấy.
Có thể nói đồng chí ấy trong tư thế sẵn sàng suốt ngày chờ sét. Nửa đêm mưa gió rét buốt, mặc, cứ nghe sét là đồng chí choáng choàng chạy ra. Như thế mười một năm. Mười một năm không một ngày xa cơ quan. Không đi đến đâu mà tìm vợ. Đồng chí cứ sợ nhỡ có sét lại vắng mặt mình. Đồng chí đang làm một cái bản đồ sét riêng cho nước ta. Có cái bản đồ ấy thì lắm của lắm bác ạ. Của chìm nông, của chìm sâu trong lòng đất đều có thể biết, quý giá lắm. Trán đồng chí cứ hói dần đi. Nhưng cái bản đồ sét thì sắp xong rồi.”
(trích “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập một, tr.186)
 5.1 Đây là lời nhân vật anh thanh niên nói với ai, trong tình huống nào?
 5.2 Người kể chuyện trong văn bản tự sự trên là ai ?
 5.3 Phương thức trần thuật nào được sử dụng trong đoạn văn trên?
 5.4 Trong đoạn văn trên, nhân vật anh thanh niên bày tỏ thái độ xót xa, cảm thông sâu sắc cho hoàn cảnh của ai?
 5.5 Đoạn văn trên chủ yếu thể hiện phẩm chất gì của nhân vật anh thanh niên?
 Câu 6 (10 điểm) Hãy đặt nhan đề cho văn bản sau: Hai đứa trẻ nọ có một người cha nghèo khổ, thất học. Ông ấy chỉ biết bắt con mình làm việc vất vả mỗi ngày mà không nghĩ đến việc trao cho chúng cơ hội học hành để thoát khỏi cảnh sống hiện tại. Năm tháng qua đi, hai cậu đã lớn và mỗi người có một cuộc sống của riêng mình.
Một nhà tâm lý học đi tìm thực tế cho bài nghiên cứu "Tác động của hoàn cảnh đến con người" đã tìm đến hai người. Một người giờ đây đã trở thành phiên bản mới của cha cậu ngày xưa: thất học, đói rách, bắt con cái làm việc quần quật. Còn người kia lại là một trong những người đi đầu trong phong trào xóa mù chữ, tạo cơ hội cho trẻ em phát triển.
Nhà tâm lý học hỏi hai người cùng một câu: “Tại sao anh trở thành người như thế?”
Thật bất ngờ, cả hai cùng đưa ra một câu trả lời: “Sống trong hoàn cảnh như vậy, đương nhiên là tôi phải trở thành người như thế này rồi.”.   (Sưu tầm từ Internet)
 Câu 7 (20 điểm)Có một "nghề" không bao giờ nghỉ lễ
Đó chính là "nghề" làm Cha Mẹ.
Hãy phụ giúp Người dù cánh tay nhỏ bé, dù túi tiền không đầy, dù cách xa hàng trăm kilômét ...
Vẫn luôn luôn có cách để Người vui.
 (trích từ Facebook của Thạc sĩ tâm lí Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu)
 Hãy viết đoạn văn ngắn (từ 10 đến 15 câu) trình bày cảm xúc và suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ văn bản trên.
 Câu 8(20 điểm)“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
(trích “Sang thu” – Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập hai, tr.70)
 Viết bài văn ngắn (khoảng một trang giấy thi) về một nội dung hoặc nét nghệ thuật mà em yêu thích trong đoạn thơ trên.
--------------
Trần Tiến Thành - SGD TP.HCM

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

ĐỀ TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM



 

ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 2 - NĂM HỌC 2014 - 2015
Môn: Ngữ văn 10
Thời gian làm bài: 90 phút
( Không tính thời gian phát đề)
Phần I. Đọc – hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói nói chuyện với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản voi, xin cho voi dừng lại để cùng xem. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi. Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau.
Thầy sờ vòi bảo:
- Tưởng con voi nó thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa.
Thầy sờ ngà bảo:
- Không phải! Nó dài dài như cái đòn càn.
Thầy sờ tai bảo:
- Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc.
Thầy sờ chân cãi:
- Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột đình.
Thầy sờ đuôi lại nói:
- Các thầy nói sai cả. Chính nó tua tủa như cái chổi xể cùn.
Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau toạc đầu chảy máu.
Câu 1. (1 điểm)
Đặt tên và xác định các phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. (1 điểm)
Xác định và nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản.
Câu 3. (3 điểm)
 Viết văn bản tóm tắt câu chuyện trên.
Phần II. Làm văn (5 điểm)
Câu 4: Hãy hóa thân vào nhân vật Tấm  kể lại truyện cổ tíchTấm Cám. Từ đó rút ra bài học về hành trình đi tìm và gìn giữ hạnh phúc.

---HẾT---