Hiển thị các bài đăng có nhãn Bộ giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bộ giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

Bộ GD-ĐT cho phép đánh giá và kế thừa những nội dung đã học trực tuyến


Bộ GD-ĐT vừa có công văn hướng dẫn về việc tăng cường dạy học qua internet, trên truyền hình trong thời gian nghỉ học để phòng, chống Covid-19, trong đó yêu cầu xem xét, kế thừa những nội dung đã học qua hình thức này. 
Theo công văn, trước diễn biến phức tạp của Covid-19, trong thời gian học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên tạm thời nghỉ học, Bộ GD-ĐT yêu cầu các sở GD-ĐT tiếp tục tăng cường các hình thức dạy học qua internet, truyền hình.
Cụ thể, các sở GD-ĐT cần chỉ đạo, hướng dẫn các nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng dẫn tại công văn số 4612 của Bộ GD-ĐT về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành để tổ chức dạy học qua internet, trên truyền hình một cách phù hợp. Trong quá trình triển khai thực hiện, cần tham khảo, sử dụng các nguồn học liệu tin cậy, chuẩn xác để tổ chức dạy học và hướng dẫn học sinh học tập.
Chỉ đạo, hướng dẫn các nhà trường lựa chọn công cụ dạy học qua internet phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của từng trường. Trong đó, đặc biệt chú ý đến các điều kiện bảo đảm tổ chức dạy học qua internet có chất lượng. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ hỗ trợ miễn phí các nhà trường tổ chức dạy học qua internet (thông tin liên hệ có tại địa chỉ https://olm.vn và qua hộp thư điện tử a@olm.vn).
Tham mưu UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp với sở GD-ĐT để tổ chức dạy học trên truyền hình một cách phù hợp với điều kiện của địa phương, trong đó lưu ý  lựa chọn đội ngũ giáo viên dạy học và khung giờ phát sóng trên truyền hình, bảo đảm chất lượng, phù hợp với chương trình học của các đối tượng học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Chủ động liên hệ với các địa phương đã triển khai chương trình dạy học trên truyền hình để tham khảo, sử dụng hoặc tiếp sóng cho học sinh tại địa phương học tập; chia sẻ các chương trình dạy học trên truyền hình của địa phương mình với các địa phương khác.
Xây dựng lịch phát sóng cụ thể trên truyền hình đối với từng môn học, lớp học và phổ biến tới toàn thể học sinh, giáo viên và gia đình học sinh; báo cáo lịch phát sóng về Bộ GD-ĐT (qua Cục Công nghệ thông tin để đưa lên Cổng thông tin của Bộ GD-ĐT).
Chỉ đạo các nhà trường phân công giáo viên giao nhiệm vụ học tập theo nội dung bài học và hướng dẫn học sinh thực hiện các buổi học qua internet, trên truyền hình; phối hợp với gia đình học sinh có biện pháp quản lý việc học của học sinh qua internet, trên truyền hình; nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập đã giao cho học sinh.
Chỉ đạo các nhà trường hướng dẫn giáo viên, học sinh tham khảo lịch phát sóng các bài học (do Bộ GD-ĐT phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng) trên Kênh truyền hình giáo dục quốc gia (kênh VTV7 và một số kênh khác) và các kênh truyền hình khác được công bố trên Cổng thông tin của Bộ GD-ĐT (tại địa chỉ http://www.moet.gov.vn).
Đáng chú ý, công văn của Bộ GD-ĐT yêu cầu: khi học sinh đi học trở lại, các trường cần đánh giá kết quả học tập qua internet, trên truyền hình, từ đó, hướng dẫn giáo viên rà soát, tinh giản nội dung dạy học và điều chỉnh kế hoạch dạy học theo hướng kế thừa những nội dung kiến thức đã học qua internet hay truyền hình, nhằm tối ưu thời gian và nội dung kiến thức cần tiếp tục dạy học.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

BGD Đề minh họa và đề thử nghiệm thi THPT quốc gia 2017

1. Đề minh họa : Tháng 10/2016 (Đáp án tham khảo)
2. Đề thử nghiệm: Tháng 2/2017 (Đáp án tham khảo)

BGD HƯỚNG DẪN VỀ CÁC CẤP ĐỘ NHẬN THỨC TRONG XÂY DỰNG MA TRẬN

MỘT SỐ KHÁI NIỆM
LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN NGỮ VĂN
(Trích tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD tháng 6/2014)
----------------------------
1.      Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng năng lực
            Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức và các bậc trình độ nhận thức tương ứng như sau:
Các mức
quá trình
Các bậc                             trình độ nhận thức
Các đặc điểm
1. Hồi tưởng thông tin
Tái hiện
Nhận biết lại
Tái tạo lại
- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách thức không thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức không thay đổi.
2. Xử lý  thông tin
Hiểu và vận dụng
Nắm bắt ý nghĩa
Vận dụng
-     Phản ánh theo ý nghĩa cái đã học.
-     Vận dụng các cấu trúc đã học trong tình huống tương tự.
3. Tạo thông tin
Xử lí, giải quyết vấn đề
-     Nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng.
-     Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình huống mới.
-     Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu chí riêng

2.      A. Các dạng bài tập:Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng:
            - Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức. Bài tập tái hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực.
            - Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình huống không thay đổi. Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo.
            - Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề. Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học.
            - Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận dụng và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn. Những bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau.
2.B. CÁC CẤP ĐỘ NHẬN THỨC

CÁC BẬC NHẬN THỨC
ĐỘNG TỪ  MÔ TẢ
1. BIẾT (Knowledge) : Sự nhớ lại tài liệu đó được học tập trước đó như các sự kiện, thuật ngữ hay các nguyên lý, quy trình.
(Hãy) định nghĩa, mô tả, nhận biết, đánh dấu, liệt kê, gọi tên, phát biểu, chọn ra, phác thảo.
2. HIỂU (Comprehension): Khả năng hiểu biết về các sự kiện và nguyên lý, giải thích tài liệu học tập, nhưng không nhất thiết phải liên hệ các tư liệu.
(Hãy) biến đổi, ủng hộ, phân biệt, ước tính, giải thích, mở rộng, khái quát, cho ví dụ, dự đoán, tóm tắt, viết một đoạn.
3. VẬN DỤNG THẤP
Khả năng vận dụng tài liệu đó học vào các tình huống mới và cụ thể hoặc để giải các bài tập.
Khả năng phân tích sự liên hệ giữa các thành phần của một cấu trúc có tính tổ chức sao cho có thể hiểu được, nhận biết được các giả định ngầm hoặc các ngụy biện có lý.

(Hãy) xác định, khám phá, tính toán, sửa đổi, thao tác, dự đoán, chuẩn bị, tạo ra, thiết lập liên hệ, chứng minh, giải quyết, sử dụng.
(Hãy) vẽ sơ đồ, phân biệt, minh hoạ, suy luận, chỉ ra, thiết lập quan hệ, chọn ra, tách biệt ra, chia nhỏ ra.
4. VẬN DỤNG CAO
Khả năng đặt các thành phần với nhau để tạo thành một tổng thể hay hình mẫu mới, hoặc giải các bài toán bằng tư duy sáng tạo.
Khả năng phê phán và thẩm định giá trị của tư liệu theo một mục đích nhất định.

(Hãy) phân loại, tổ hợp lại, biên tập lại, thiết kế, lý giải, tổ chức, lập kế hoạch, sắp xếp lại, cấu trúc lại, tóm tắt, sửa lại, viết lại, kể lại.
(Hãy) đánh giá, so sánh, đưa ra kết luận, thoả thuận, phê bình, mô tả, suy xét phân biệt, giải thích, đưa ra nhận định, ủng hộ...

BGD HƯỚNG DẪN VỀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN CỦA HỌC SINH

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                               --------------------------
*Đánh giá kĩ năng viết của HS: 
HS ở cấp THPT có thể tạo lập được VB theo những phương thức khác nhau, đặc biệt là có thể viết được các bài văn nghị luận (về xã hội hoặc văn học), nêu được quan điểm, tư tưởng riêng của mình về các vấn đề của đời sống hoặc văn học một cách sâu sắc, có sức thuyết phục. Tuy nhiên, do cách ra đề và đáp án “đóng”, cùng với việc coi trọng kiến thức văn học, nên các đề kiểm tra viết hiện nay chưa tạo điều kiện cho HS phát biểu những suy nghĩ riêng, sáng tạo và vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của mình.
             -  Cần đổi mới cách thức đánh giá kĩ năng viết của HS bằng cách ra đề theo hướng mở và tích hợp (trong môn và liên môn). Đề mở chấp nhận nhiều cách trả lời, thậm chí có những câu trả lời đối ngược nhau miễn là HS bộc lộ được nhận thức và lập luận lôgic trong quá trình đi đến câu trả lời. 
             - Trong quá trình làm bài, HS cần vận dụng các kiến thức, kĩ năng của các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học cũng như kiến thức liên môn (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân,...) để giải quyết vấn đề mà đề bài nêu ra. 
             - Đáp án không áp đặt nội dung trả lời mà nên nêu được các phương án mà HS có thể trình bày, phân tích được sự hợp lí của các phương án đó; đồng thời, nêu được những yêu cầu về kĩ năng làm bài của HS, khuyến khích HS sử dụng nhiều kĩ năng, thao tác khác nhau trong giải quyết vấn đề; khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, quan điểm riêng của mình, chấp nhận nhiều cách hiểu và giải quyết vấn đề khác nhau miễn là tư tưởng của người viết không đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức và pháp luật mà xã hội đã quy định;
            -Khuyến khích HS vận dụng được những điều đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra một cách có sức thuyết phục, hợp lí, tự nhiên, phù hợp với trình độ của các em.
                      Cũng như KTĐG kĩ năng ĐH, đánh giá kĩ năng viết của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
                  Cần coi các biểu hiện của kĩ năng viết đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng viết của HS.
* KN viết của HS bao gồm các yêu cầu sau:
- Cần xây dựng cho mình thái độ sẵn sàng và những hiểu biết về kĩ thuật viết (văn phong) để viết một cách chính xác và trôi chảy, lưu loát.
- Nội dung thể hiện:
+ Đề xuất và lựa chọn các ý tưởng cho bài viết; trình bày cho phù hợp với các mục đích, đối tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
+ Lập dàn ý bằng cách xác định mục đích, đối tượng và ngữ cảnh (trong đó xác định cách thể hiện và giọng điệu), đặt ra mục tiêu cho các nhiệm vụ của bài viết hoặc các chủ đề.
+ Kích thích trí tưởng tượng, tạo ra hoặc thu thập những ý tưởng phù hợp với các nhiệm vụ của bài viết hoặc chủ đề; đưa ra những câu hỏi về các chủ đề; nghiên cứu các bài mẫu; suy nghĩ và và mô tả những cảm xúc, quan điểm hoặc ý tưởng của cá nhân…
+ Thu thập, đánh giá, lựa chọn và tổng hợp tài liệu phù hợp với mục đích của bài viết, nhu cầu/mong muốn của người đọc và bối cảnh giao tiếp.
+ Phát triển, tổ chức và thể hiện ý tưởng, quan điểm mạch lạc, chặt chẽ bằng văn bản để đáp ứng nhiều mục đích, đối tượng, ngữ cảnh và văn hóa khác nhau.
*Ở cấp độ văn bản:
+ Tổ chức các sự kiện, ý tưởng và/hoặc quan điểm một cách phù hợp với phương thức tạo lập văn bản, mục đích và đối tượng mà VB hướng tới.
+ Sắp xếp các các chi tiết và ví dụ để hỗ trợ/minh họa cho các nội dung chính của một VB cho phù hợp với mục đích, đối tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
+ Tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của VB bằng cách: lựa chọn mô hình tổ chức/bố cục phù hợp với mục đích, đối tượng, bối cảnh và văn hóa giao tiếp (theo trình tự thời gian, theo hình thức phân loại, theo thứ tự ưu tiên/tầm quan trọng, theo mối quan hệ nhân quả, theo mối quan hệ so sánh và đối lập…), sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ (các phương tiện liên kết) để giúp người đọc theo dõi được sự phát triển của các ý tưởng hoặc mạch lập luận.
+ Sử dụng các chiến lược hỗ trợ (ví dụ: những câu chuyện, các ý kiến của chuyên gia…) để: hỗ trợ quan điểm/hành động mà người viết đề xuất trong VB để thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm/hành động ấy; giải quyết những mối quan tâm, mong đợi của độc giả về quan điểm hoặc hành động của người viết…
**Ở cấp độ đoạn văn:
+ Sử dụng một câu chủ đề để giới thiệu ý tưởng chính trong một đoạn văn.
+ Giải thích và/hoặc làm rõ ý tưởng chính của đoạn văn bằng cách cung cấp các dẫn chứng, lí lẽ có liên quan.
+ Sử dụng các phương tiện/phép liên kết phù hợp (ví dụ: phép lặp, phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) để: chỉ ra mối quan hệ giữa các đoạn/câu khác nhau và giữa các ý chính trong một đoạn; thể hiện chức năng của một đoạn văn trong mối liên quan với các phần khác của VB.
+ Lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ cho hiệu quả, phù hợp với nội dung, mục đích của đoạn văn. Thuyết phục người đọc chấp nhận quan điểm/hành động của người viết thông qua các yếu tố như: độ dài của câu, cấu trúc câu, mẫu câu, từ vựng, biện pháp tu từ, vần điệu,…
+ Nhắc lại nội dung/ý tưởng chính trong phần kết đoạn.
-  Rà soát và chỉnh sửa để hoàn thiện bài viết .
Mục đích của rà soát, chỉnh sửa là tạo ra một VB hoàn chỉnh để đạt được mục đích của người viết, đáp ứng nhu cầu của người đọc, phù hợp với bối cảnh và văn hóa giao tiếp.
Rà soát và điều chỉnh lại bài viết để nâng cao tính phù hợp, tập trung, trong sáng và đạt được độ chính xác trong việc chuyển tải ý nghĩa. HS có thể tự mình rà soát, điều chỉnh hoặc cần đến sự giúp đỡ của giáo viên, bạn bè để: xác định cách diễn đạt hoặc ý tưởng/quan điểm không phù hợp với người đọc và bối cảnh giao tiếp; thay thế, thêm, xóa và/hoặc sắp xếp lại từ, cụm từ, câu, sự kiện, ý tưởng, chi tiết, quan điểm; thay đổi trình tự sắp xếp các sự kiện, ý tưởng, chi tiết trong hoặc giữa các đoạn…
        * Vận dụng/thực hành viết một loạt các VB cho các mục đích khác nhau.
- Tất cả HS trung học phổ thông đều phải sử dụng các kĩ năng viết nêu trên trong quá trình làm văn. Đây cũng là chuẩn viết cần đạt của HS trung học phổ thông.
- GV có thể sử dụng các ngữ liệu là những văn bản trong SGK hoặc các VB ngoài SGK nhưng có cùng thể loại, đề tài hoặc chủ đề với các VB mà HS đã được học; cũng có thể lấy các VB được viết theo những phong cách ngôn ngữ mà HS đã học (như phong cách ngôn ngữ báo chí, chính luận, khoa học, nghệ thuật…) để thiết kế các câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra để rèn luyện và đánh giá kĩ năng đọc hiểu VB và kĩ năng viết của HS. 
- Để đánh giá kĩ năng viết của HS, cần tăng cường ra các câu hỏi/đề kiểm tra theo hướng mở, với những nội dung gắn với cuộc sống thực tiễn, với những trải nghiệm của HS, giúp HS vận dụng được những kiến thức sách vở và cuộc sống để trình bày những ý tưởng, cảm nhận, suy nghĩ sáng tạo về những vấn đề xã hội hoặc văn học.

- Cùng với bộ công cụ, cần xây dựng được hướng dẫn chấm đảm bảo tính khoa học và chính xác. 
+Hiện nay cách xây dựng hướng dẫn chấm có thể theo điểm số hoặc theo mã hóa câu trả lời (theo hướng PISA). 
+Đối với bộ công cụ là các câu hỏi mở, một trong những cách chấm điểm là xây dựng rubric, đó là một tập hợp các tiêu chí và minh chứng xác định các cách trả lời câu hỏi của HS cùng với những chỉ số thực hiện đối với mỗi kết quả được quy định ở một mức chuẩn cụ thể. Những chỉ số này được trình bày rõ ràng để tất cả mọi người có thể hiểu HS cần phải làm gì, kết quả ra sao và minh chứng được kết quả học tập ở mỗi một mức độ (tốt, khá, trung bình hay không đạt). Việc chấm điểm theo rubric cung cấp những thông tin cụ thể, xác thực giúp cho việc phân tích, xử lí kết quả đánh giá được chính xác, khách quan.

BGD HƯỚNG DẪN VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                                                          -------------------------------
3. Về đọc hiểu văn bản: Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về VB.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b)  Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết, biện pháp tu từ...  trong VB.
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ, đồ thị… (nếu có).
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản.
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được đưa ra.
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản.
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các nhân vật).
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp.
+  Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết...
Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết.
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử dụng).
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với  các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…).
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó.
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.
+ Đọc các văn bản khác (ngoài CT, SGK) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu.
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi từ nội dung của văn bản đã đọc hiểu.
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra. Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm của đối tượng từ góc độ cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng, ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ, trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc trình bày ra những ý tưởng, giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiễn… Viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, do vậy cần tạo ra được những cơ hội để HS thể hiện ngay trong quá trình dạy học đọc hiểu để HS đồng thời phát triển các năng lực trong học tập.
4. Đánh giá kĩ năng đọc trong môn Ngữ văn
Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn hiện nay là đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS. Việc đánh giá kĩ năng nghe và nói của môn học này chưa được đề cập đến nhiều trong các nội dung học tập. Do vậy tài liệu chủ yếu trình bày những nội dung về đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS trong môn học này.
a) Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của HS: ở trường THPT, kĩ năng đọc hiểu (ĐH) rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK hiện nay là bài học về VB văn  học. Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc ĐH và cảm thụ lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá VB. Hơn nữa, VB được ĐH chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật dụng được đưa vào CT, SGK. Việc đánh giá kĩ năng đọc của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của VB đã học). Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu các loại VB khác nhau của người học.
Vì vậy, cần đổi mới đánh giá kĩ năng ĐH của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. Các câu hỏi đánh giá kĩ năng ĐH và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp.
Đánh giá kĩ năng ĐH của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của kĩ năng đọc đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng đọc hiểu của HS. Ngoài ra, có thể vận dụng 6 mức độ mà Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã nêu để đánh giá kĩ năng ĐH của HS như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều VB và có thể tích hợp thông tin từ nhiều VB. Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của VB. Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một VB có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về VB. Một điều kiện quan trọng đối với phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ trong VB.
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong VB. Các nhiệm vụ phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giảiphản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một VB có nội dung hoặc hình thức mới (không được in trong SGK – chúng tôi nhấn mạnh). Đối với tất cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường.
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong VB. Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của VB. Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một VB. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một VB dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc.
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin. Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một VB để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ.  Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ VB, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết)  trái với kỳ vọng/suy nghĩ thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của VB. Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của VB liên quan đến tri thức hàng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết VB, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến ​​thức ít phổ biến hơn.
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một VB, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích ý nghĩa của một phần của VB được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của VB. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các VB và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân.
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một VB về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các VB và kiến thức thông thường hàng ngày. Thông thường các thông tin cần thiết trong VB là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong VB.
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một VB đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một VB tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các VB thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau.
Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ 6, 5, 4 bao gồm việc hiểu VB được học, vận dụng vào đọc VB mới; các mức độ còn lại áp dụng với những VB được học hoặc quen thuộc với người đọc.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

HỌP CHUYÊN MÔN NGỮ VĂN THPT 15-02-2017

NỘI DUNG:
Chuyên viên phụ trách bộ môn Trần Tiến Thành triển khai:
1. Sơ kết HK1 2016-2017,
Trong đó nhấn mạnh rút kinh nghiệm việc làm đề theo các cấp độ ma trận.
2. Hướng dẫn chuyên môn HK2 của SGD và BGD
3. Chia sẻ kinh nghiệm
* Cô Triệu Thị Huệ chia sẻ kinh nghiệm ra đề, hướng dẫn học sinh học tập để đáp ứng được yêu cầu mới của kỳ thi QG 2017 trong môn Ngữ văn
-Phần đọc hiểu văn bản
-Phần viết đoạn văn
-Phần viết bài văn NLVH
==> Các thông tin chi tiết, cụ thể liên quan đến 20 đề thi đề xuất và các bài tham khảo được đúc kết trong cuốn sách "Ôn tập thi quốc gia THPT 2017" Môn Ngữ văn. do Cô Triệu Thị Huệ biên soạn
*Cô Lê Kim Mai chia sẻ các văn bản hướng dẫn của BGD liên quan đến:
- Nội hàm cách hiểu các cấp ma trận
- HD làm đề theo ma trận
- Tập huấn làm đề theo ma trận
- HD Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực học sinh
- Cách hiểu các cấp độ biết, hiểu, vận dụng thấp, VD cao trong môn Ngữ văn
-Các yêu cầu cụ thể đối với các dạng đề:
+Đọc hiểu văn bản
+Viết đoạn văn
+Viết bài văn
4.Chia sẻ qua mail:
1. Thư mục đề thi HK1 2016-2017 của gần 200 trường THPT
Tải về Đề thi HK1
 2.Thư mục HD của BGD: các hướng dẫn, công văn pháp lý do BGD ban hành liên quan đến dạy - học -Kiểm tra -Thi quốc gia trong môn Ngữ văn (tải về)
https://drive.google.com/drive/folders/0B_-9imCVMc3DcXBYb1BKX2t6X0U
Cách thức chia sẻ:
- Thầy Thành mail gửi đến 8 thành viên HĐBM,
- Các TTCM ghi địa chỉ mail chỗ thành viên HĐBM để được chuyển tiếp các tư liệu liên quan.
-Nhấp vào line để tải tài liêu về.



Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

BGD: ĐỀ BÀI MINH HỌA KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN 6



CÂU HỎI VÀ ĐỀ BÀI MINH HỌA KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN 6
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
A. Câu hỏi đọc hiểu văn bản
  Đọc hiểu văn bản là một nội dung quan trọng trong chương trình môn Ngữ văn. Ở
học kì I của lớp 6, HS được đọc hiểu các thể loại của văn học dân gian và truyện trung đại.
Tùy thuộc vào trình độ của HS, GV có thể sử dụng các văn bản văn học mà HS đã được học
chính thức hoặc các văn bản chưa được học chính thức nhưng được viết theo cùng thể loại
với văn bản đã học (lấy ở phần đọc thêm trong tài liệu Hướng dẫn học Ngữ văn 6, Tập một
hoặc các nguồn tham khảo khác) để xây dựng các câu hỏi theo 4 mức độ: nhận biết, thông
hiểu, vận dụng và vận dụng cao.
GV nhất thiết phải đưa vào đề kiểm tra ít nhất 01 văn bản (là đoạn trích hoặc văn bản
hoàn chỉnh) để học sinh đọc và trả lời các câu hỏi. Tránh trường hợp không đưa vào đề kiểm
tra văn bản để HS đọc mà chỉ đưa ra các câu hỏi, nhất là mỗi câu hỏi lại liên quan đến một
văn bản HS đã học trong chương trình, buộc HS phải nhớ các văn bản để trả lời câu hỏi. Bởi
đó không phải là hình thức kiểm tra đọc hiểu theo định hướng năng lực mà là kiểm tra việc
thuộc lòng, ghi nhớ kiến thức của HS.
Cần tích hợp việc kiểm tra Tiếng Việt thông qua đọc hiểu văn bản. Có thể kết hợp
giữa câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận; tăng cường câu hỏi mở để đánh giá
năng lực của HS. Khi chấm bài, với những câu hỏi mở, GV cần chấp nhận những suy nghĩ, ý
kiến riêng của HS nếu hợp lí, không trái với đạo đức và pháp luật.
   
Sau đây là một số câu hỏi minh họa. Kí hiệu sau mỗi câu hỏi được quy định như sau:
(1) – mức độ nhận biết; (2) – mức độ thông hiểu; (3) – mức độ vận dụng; (4) mức độ vận
dụng cao.

I. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó sứ
giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến
thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông
ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa.
Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết
lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre
bên đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ
đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi
giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời’’.
                                                              (Trích Thánh Gióng)
Câu 1 (1). Đoạn trích kể về việc gì? 
Câu 2 (1). Ghi lại 01 chi tiết kì ảo, hoang đường trong đoạn trích. 
Câu 3 (2). Qua đoạn trích, nhân dân ta muốn gửi gắm ước mơ nào? 
Câu 4 (3). Nêu cảm nhận của riêng em về nhân vật Thánh Gióng trong đoạn trích. 
Câu 5 (1). Ghi lại ít nhất 02 từ mượn có trong đoạn trích. 
Câu 6 (1), (2). Giải thích nghĩa của từ “tàn quân” và cho biết em giải thích nghĩa của từ đó
bằng cách nào? 
Câu 7 (4). Nhiều người cho rằng một trong những lí do để Thánh Gióng đánh thắng giặc là
do Thánh Gióng    sức khỏe phi thường  (mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt, nhổ
những cụm tre bên đường quật vào giặc). Vậy, em nghĩ mỗi học sinh có cần tập luyện nâng
cao sức khỏe, phát triển thể chất để bảo vệ Tổ quốc không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 3-5 dòng.
II. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Đến ngày lễ Tiên  vương, các lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng tới,
chẳng thiếu thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu,
rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ
rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.
Lễ xong, vua cho đem bánh ra ăn cùng với quần thần. Ai cũng tấm tắc khen ngon. 
Vua họp mọi người lại nói :
– Bánh hình tròn là tượng Trời ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất,
các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài, ta đặt tên là bánh
chưng. Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp ý
ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên vương chứng giám.
Từ đấy, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng,
bánh giầy. Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết.    
                (Trích Bánh chưng, bánh giầy)
Câu 1 (1). Đoạn trích kể về việc gì? 
Câu 2 (2). Đoạn trích nhằm giải thích điều gì? 
Câu 3 (3). Em có đồng tình với ý kiến “Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị
ngày Tết” trong đoạn trích hay không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 3-5 dòng.
Câu 4  (4). Hiện nay, phong tục gói bánh chưng ngày Tết trong nhiều gia đình người Việt
Nam đã không còn. Theo em, chúng ta có cần khôi phục và giữ gìn phong tục ấy không? Vì
sao? Trả lời trong khoảng 3-5 dòng.
Câu 5  (1). Nhận định nào đúng với cụm từ “hai thứ bánh ấy” (trong câu “Vua cha ngẫm
nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.”)? 
A. Là một cụm danh từ      B. Là một cụm động từ  
C. Là một cụm tính từ        D. Là một lượng từ
Câu 6 (1),(2). Giải thích nghĩa của từ “lễ vật” (trong câu “Lang Liêu đã dâng  lễ vật hợp ý
ta.”) và cho biết em đã giải nghĩa từ đó bằng cách nào? 

III. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG
Xưa có một người thợ mộc dốc hết vốn trong nhà ra mua gỗ để làm nghề đẽo cày.
Cửa hàng anh ta ở ngay bên vệ đường. Người qua, kẻ lại thường ghé vào xem anh ta đẽo
bắp cày.
Một hôm, một ông cụ nói :
– Phải đẽo cho cao, cho to thì cày mới dễ.
Anh ta cho là phải, đẽo cái nào cũng vừa to vừa cao.
Mấy hôm sau, một bác nông dân rẽ vào, nhìn đống cày, lắc đầu nói :
– Đẽo thế này thì cày sao được ! Phải đẽo nhỏ hơn, thấp hơn mới dễ cày.
Nghe cũng có lí, anh ta liền đẽo cày vừa nhỏ, vừa thấp. Nhưng hàng đầy ra ở cửa,
chẳng ai mua. Chợt có người đến bảo :
– Ở miền núi, người ta vỡ hoang, toàn cày bằng voi cả. Anh mau đẽo cày to gấp đôi,
gấp ba như thế này thì bao nhiêu bán cũng hết, tha hồ mà lãi.
Nghe nói được nhiều lãi, anh ta đem tất cả số gỗ của nhà còn lại đẽo toàn loại cày để
cho voi cày. Nhưng ngày qua, tháng lại, chẳng thấy ai đến mua cày voi của anh ta cả. Thế là bao nhiêu gỗ anh ta đẽo hỏng hết, cái thì bé quá, cái thì to quá. Vốn liếng đi đời nhà ma.
Khi anh ta biết cả tin là dại thì đã quá muộn !
(TheoTrương Chính)
Câu 1 (1). Truyện kể về việc gì?
Câu 2 (2). Trong truyện, người thợ mộc bị chê cười vì điều gì?
Câu 3 (3). Hãy nêu nhận xét/đánh giá của em về việc làm của người thợ mộc trong truyện.
Trả lời trong khoảng 2-4 dòng.
Câu 4  (4). Đọc xong câu chuyện trên, em rút ra bài học gì cho bản thân và những người
xung quanh? Trả lời trong khoảng 3-5 dòng.

IV. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi. 
Cụ tổ bên ngoại của Trừng, người họ Phạm, húy  là Bân, có nghề y gia truyền, giữ
chức Thái y lệnh để phụng sự Trần Anh Vương.
Ngài thường đem hết của cải trong nhà ra mua các loại thuốc tốt và tích trữ thóc gạo.
Gặp kẻ tật bệnh cơ khổ, ngài cho ở nhà mình, cấp cơm cháo, chữa trị. Dẫu bệnh có dầm dề
máu mủ, ngài cũng không hề né tránh. Bệnh nhân đến chữa tới khi khoẻ mạnh rồi đi. Cứ
như vậy, trên giường không lúc nào vắng người.
… Một lần, có người đến gõ cửa, mời gấp :
- Nhà có người đàn bà, bỗng nhiên nguy kịch, máu chảy như xối, mặt mày xanh lét.
Nghe vậy, ngài theo người đó đi ngay. Nhưng ra tới cửa thì gặp sứ giả do vương sai
tới, bảo rằng :
- Trong cung có bậc quý nhân bị sốt, vương triệu đến khám.
Ngài nói :
- Bệnh đó không gấp. Nay mệnh sống của người nhà người này chỉ ở trong khoảnh
khắc. Tôi hãy cứu họ trước, lát nữa sẽ tới vương phủ.
Quan Trung sứ tức giận nói :
– Phận làm tôi, sao được như vậy ? Ông định cứu tính mạng người ta mà không cứu
tính mạng mình chăng ?
Ngài đáp :
- Tôi có mắc tội, cũng không biết làm thế nào. Nếu người kia không được cứu, sẽ chết
trong khoảnh khắc, chẳng biết trông vào đâu. Tính mệnh  của tiểu thần còn trông cậy vào
chúa thượng may ra thoát. Tội tôi xin chịu.
Nói rồi, đi cứu người kia…
(Trích Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng - Hồ Nguyên Trừng)
Câu 1 (1). Nhân vật “ngài” xưng “tôi” trong đoạn trích trên là ai ? 
Câu 2 (2). Vì sao nhân vật ấy lại không đến vương phủ trước theo yêu cầu của quan Trung
sứ? 
Câu 2 (3). Hãy nhận xét về hành động “đi cứu người kia” của nhân vật xưng “tôi”.
Câu 3 (4). Em học được điều gì tốt đẹp từ nhân vật xưng “tôi” ấy? Trả lời trong khoảng 3-5
dòng.

B. Đề bài tập làm văn – Văn tự sự (kể chuyện)
GV xây dựng các đề tập làm văn kể chuyện tưởng tượng hoặc kể chuyện đời thường
để đánh giá khả năng viết văn tự sự của HS. Cần tích hợp kiểm tra Tiếng Việt thông qua tập
làm văn. Cần tăng cường việc ra đề mở để đánh giá năng lực của HS. Khi chấm bài, với những đề mở, GV cần chấp nhận những suy nghĩ, ý kiến riêng của HS nếu hợp lí, không trái
với đạo đức và pháp luật.
  Sau đây là một số đề bài minh họa. Các đề bài tập làm văn này đều được xếp vào mức
độ vận dụng (3) (nếu kể chuyện theo một cốt truyện đã học/biết) hoặc vận dụng cao (4) (nếu
kể chuyện sáng tạo hoàn toàn).
Đề 1 (4). Kể lại một câu chuyện theo chủ đề: cách ứng xử khôn khéo, thông minh của con
người trong cuộc sống. Gạch dưới các số từ, lượng từ, chỉ từ (nếu có) trong bài văn của em.
Đề 2 (3). Đóng vai công chúa Mị Nương kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. Gạch dưới các
danh từ, cụm danh từ (nếu có) trong bài văn của em.
Đề 3 (4). Kể cho người thân nghe một câu chuyện, trong đó nêu lên sự việc làm thay đổi suy
nghĩ / nhận thức của em về một người bạn. Gạch dưới các tính từ, cụm tính từ (nếu có) trong
bài văn của em.
Đề 4 (4). Kể lại một chuyến đi chơi thú vị của em và gia đình hoặc bạn bè. Trong bài văn, sử
dụng ít nhất 01 từ nhiều nghĩa và gạch dưới từ đó.
Đề 5 (3). Kể lại một truyện dân gian mà em thích nhất ở ngôi thứ ba bằng lời văn của em.
Gạch dưới các từ Hán Việt (nếu có) trong bài văn của em.

C. CÁCH XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I - MÔN NGỮ VĂN 6  
  Đề kiểm tra Học kì I – Môn Ngữ văn 6 có thời lượng 90 phút. 
Đề thi gồm 2 phần:
  - Phần I – Đọc hiểu văn bản (4,0 đến 5,0 điểm): gồm ít nhất 01 văn bản văn học
(truyện dân gian hoặc truyện trung đại). Không kiểm tra đọc hiểu văn bản nhật dụng do HS
chưa học văn bản này ở Học kì I – Lớp 6. Các câu hỏi được xây dựng theo các mức độ: nhận
biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao. Với mỗi mức độ, có ít nhất 01 câu hỏi. 
  - Phần II – Làm văn (5,0 đến 6,0 điểm): gồm 01 đề bài tập làm văn tự sự kể chuyện
tưởng tượng hoặc kể chuyện đời thường.