Hiển thị các bài đăng có nhãn CH trắc nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CH trắc nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Đề KT 15 phút- Phần đọc - hiểu

HÁT XOAN Ở PHÚ THỌ
Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. Có 3 hình thức hát xoan: hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe; và hát lễ hội là hình thức để nam nữ giao duyên.
Theo sử sách ghi lại thì hát Xoan đã tồn tại hơn 2.000 năm, là di sản văn hóa dân gian hết sức quý báu. Trên chặng đường dài đó, loại hình nghệ thuật này đã được nhiều người có vị thế và uy tín trong xã hội, nhiều văn nhân thi sĩ nâng đỡ, tạo điều kiện cho phát triển. Trong đó có phần công lao to lớn của bà Lê Thị Lan Xuân, mà phường Xoan truyền tụng như một ân nhân. Để tỏ lòng biết ơn bà, các phường Xuân kiêng tên bà gọi chệch đi là hát Xoan. 
Các làn điệu Xoan cổ đều được bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa bàn trung tâm bộ Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Gốc của hát Xoan ở vùng Phú Thọ, sau đó lan tỏa tới các làng quê thuộc đôi bờ sông Lô, sông Hồng, qua cả tỉnh Vĩnh Phúc. Bốn phường Xoan cổ là An Thái, Phù Đức, Kim Đới và Thét nằm ở 2 xã Kim Đức và Phương Lâu (Phú Thọ). 
Ca nhạc của Xoan là ca nhạc biểu diễn với đầy đủ các dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp. Về sắc thái âm nhạc, nhạc Xoan vừa có những giọng nghiêm trang, thong thả vừa có những điệu dồn đuổi khỏe mạnh, lại có những giọng duyên dáng, trữ tình.
Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca. Các tiết mục múa hát thường theo thứ tự nhất định. Mở đầu là 4 tiết mục có tính nghi thức, mang nội dung khấn nguyện, chúc tụng, xen mô tả sản xuất. Đây là những bài ca cổ, chủ yếu hát nói hoặc ngâm ngợi; theo thứ tự: giáo trống, giáo pháo, thơ nhang, đóng đám. Tiếp theo là phần hát cách (còn gọi là quả cách). Trong phần này, ông Trùm hoặc một kép chính giở sách ngân nga 14 bài thơ nôm dài với giọng phụ họa của các cô đào đứng ở phía sau. Mười bốn quả cách trong hát Xoan là những áng thơ khuyết danh với các đề tài khác nhau như: mô tả lao động, sinh hoạt ở nông thôn, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể các tích chuyện xưa. Sau phần hát cách đến các tiết mục có tính chất dân gian với nội dung đậm nét trữ tình, mang dáng dấp của các bài dân ca, ví giao duyên, hát trống quân. Mỗi tiết mục nối tiếp nhau ở đây thường gắn với những động tác và đội hình múa, hoặc lối diễn mang tính chất hoạt cảnh như: hát gái, bỏ bộ, xin huê, đố huê, đố chữ, gài huê, hát đúm, đánh cá... Sức sống của hát Xoan chính là ở sự kết hợp của loại hình hát lễ nghi với hát giao duyên, tồn tại lâu dài và được nhiều thế hệ yêu thích. 
(Theo http://www.vietnamtourism.com)
Câu 1. Trong hát Xoan, không có hình thức hát nào?
A.    Hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng
B.     Hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe
C.     Hát lễ hội để nam nữ giao duyên.
D.    Hát kể các tích chuyện xưa
Câu 2.  Hát Xoan được tổ chức vào mùa nào trong năm?
A.    Mùa xuân    B..Mùa hạ           C.     Mùa thu  D.          Mùa đông
Câu 3. Trong hát Xoan, các tiết mục múa và hát thường theo thứ tự mấy bước?
A.    2 bước          B.3 bước               C.4 bước               D.     5 bước
Câu 4. Từ “huê” trong đoạn cuối của văn bản đồng nghĩa với từ nào?
A.    Hương             B. trầu                C.hoa              D. thơ
Câu 5. Thống kê các dạng thức nhạc hát trong hát Xoan và nhận xét về các dạng thức ấy.
……………………………………………………………………………………….....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Câu 6.
            Dựa vào văn bản Hát xoan Phú Thọ, hãy viết văn bản về một làn điệu dân ca hoặc một loại hình nghệ thuật mà em biết hoặc yêu thích.
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

THƠ HIỆN ĐẠI VN 1930-1945

4.2.2. Đề kiểm tra cho chủ đề thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900-1945 (Lớp 11) ==> Trích tài liệu tập huấn của BGD
Ma trận đề kiểm tra

    Mức độ

Chủ đề
Nhận biết

Thông hiểu
Vận dụng thấp

Vận dụng cao
Tổng số
 I. Đọc hiểu
Đoạn thơ ”Ta muốn ôm” đến hết (Trích Vội vàng, Xuân Diệu)

- Sự hiện diện của chủ thể trữ tình (qua các cách xưng hô) cùng chiều hướng cảm xúctrong đoạn thơ.
- Các biện pháp tu từ, các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật (danh từ, tính từ).

- Hiểu được diễn biến cảm xúc của nhân vật trữ tình qua ý nghĩa của việc chuyển đổi cách xưng hô từ tôi sang ta.
- Hiểu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật (điệp, liệt kê, câu thơ vắt dòng...) đối với việc thể hiện điệu cảm xúc trong đoạn thơ.
- Vận dụng hiểu biết về đoạn thơ vào việc bình luận, đánh giá một ý kiến cho trước.
- Vận dụng tổng hợp hiểu biết về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ vào việc làm rõ nhận định của Hoài Thanh về Xuân Diệu (nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới).

Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
  4
1,0
10%
2
1,0
10%
1
0,5
05%
1
0,5
05%
8
3,0
30 %
II. Làm văn
Nghị luận xã hội



- Vận dụng hiểu biết văn học, văn hóa, xã hội và kĩ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí, một hiện tượng đời sống.


Số câu
Số điểm
Tỉ lệ

1
7,0
70%

1
      7,0
70%
Tổng chung:
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ


4
1,0
10%


2
1,0
10%


2
7,5
75%


1
0,5
05%


9
10,0
100%

Đề kiểm tra
Thời gian làm bài: 45 phút
Phần I : Đọc hiểu (3.0đ)
Đọc và trả lời những câu hỏi sau :
Ta muốn ôm
                                                Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
                                                Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
                                                Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
                                                Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
                                                Và non nước, và cây, và cỏ rạng
                                                Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
                                                Cho no nê thanh sắc của thời tươi
                                                - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
                                                                                                (Trích Vội vàng,Xuân Diệu)
1.      Những thông tin sau về đoạn thơ trên đúng hay sai?
Niềm ham muốn mãnh liệt “tôi muốn” ở đầu bài thơ giờ đã chuyển thành “ta muốn”.
Đúng / Sai
Niềm khát khao tận hưởng vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống ngày càng tăng dần về cường độ.
Đúng / Sai
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóađã được tận dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Xuân Diệu.
Đúng / Sai
Nhà thơ đã sử dụng một hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ để tạo ra một thế giới đầy sức hấp dẫn, thôi thúc con người hưởng thụ, chiếm lĩnh.
Đúng / Sai

2.      Việc chuyển đổi cách xưng hô từ “tôi” sang “ta” chủ yếu nhằm thể hiện điều gì?
A.    Sự rộng lớn, mênh mông của tâm hồn thi nhân trước sự chật chội của “lượng trời”.
B.     Vẻ đẹp, tầm vóc lớn lao của con người trước thiên nhiên và cuộc sống con người.
C.     Sức sống mạnh mẽ, sự thức tỉnh của cái “tôi” thơ mới sau thời gian dài phải núp mình trong cái “ta”.
D.    Khát vọng nâng mình lên một tầm vóc lớn lao hơn để có thể thu nhận hết mọi vẻ đẹp của cuộc sống. 
3.      Nhịp điệu gấp gáp trong cuộc chạy đua với thời gian để tận hưởng những vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống không được tạo ra bởi phương tiện nghệ thuật nào?
A.    Các động từ mạnh, ngày càng tăng dần về cường độ.
B.     Những câu thơ gọn, chắc, đăng đối, cân xứng về nhịp.
C.     Những câu thơ vắt dòng để cảm xúc tràn từ dòng trên xuống dòng dưới.
D.    Những cấu trúc trùng điệp gắn liền với thủ pháp liệt kê.
4.      Đánh giá đoạn thơ trên, có ý kiến cho rằng : đó là một cái “tôi” vị kỷ, sống hưởng thụ, sống gấp. Bạn có đồng ý với ý kiến này không? Hãy giải thích ngắn gọn (không quá 3 câu).
…………………………………………………………………………………
5.      Chúng ta có thể nói gì về những yếu tố mới mẻ đã góp phần làm nên danh hiệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) của Xuân Diệu qua đoạn thơ này? (Trình bày trong khoảng từ 5-7 câu)
…………………………………………………………………………………
Phần II : Tự luận (7.0đ)
            Hãy lắng nghe những lời đối thoại về quan điểm sống sau đây:
-         Xuân Diệu :
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
                        Cho nên :
Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm
                                                                                                            (Vội vàng)
                                    Mau với chứ, vội vàng lên với chứ !
                                    Em, em ơi, tình non đã già rồi.
                                                                                    (Giục giã)
-         Nguyễn Ngọc Thuần : “Trong nhịp sống ồn ào, vội vã hôm nay, đôi khi ta cũng cần dừng lại, mua thêm cho mình một chút suy tư, một chút nhớ mong, một chút bình yên, để lấy sức và rồi tiếp tục bước đi” .
(Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ)
-         Còn bạn? ………………................................................................................
Hãy thể hiện quan điểm của bản thân về vấn đề trên bằng một bài văn không quá 400 từ.
Hướng dẫn chấm
Phần 1 : Đọc hiểu (3.0điểm)
Câu 1 : 1.0 điểm, mỗi ý : 0.25 điểm
Niềm ham muốn mãnh liệt “tôi muốn” ở đầu bài thơ giờ đã chuyển thành “ta muốn”
Đúng
Niềm khát khao tận hưởng vẻ đẹp “mơn mởn” của cuộc sống ngày càng tăng dần về cường độ
Đúng
Các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa đã được tận dụng triệt để nhằm thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của cái tôi trữ tình Xuân Diệu.
Sai
Nhà thơ đã sử dụng một hệ thống những tính từ chỉ xuân sắc, những danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ để tạo ra một thế giới đầy sức hấp dẫn, thôi thúc con người hưởng thụ, chiếm lĩnh.
Đúng

Câu 2 : (0.5đ)
Phương án : D
Câu 3 :(0.5đ)
            Phương án : B
Câu 4 :(0.5đ)  
            Không.Vì đây là sự hưởng thụ chính đáng, biết sống với những gì mình có và mình đáng được hưởng khi tuổi trẻ không lặp lại lần thứ hai trong đời.
Câu 5 : 0.5đ
-         Cái “tôi” cá nhân lớn lao, mạnh mẽ, công khai bộc bạch khát vọng và hành động hưởng thụ cuộc sống ở mọi chiều kích khác nhau.
-         Những cách diễn đạt mới mẻ hiếm thấy trong thơ ca truyền thống (VD : câu thơ cuối)
Phần II : Làm văn (7.0 điểm)
1.      Yêu cầu về kĩ năng
-         Biết cách làm bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý, hiện tượng đời sống.
-         Vận dụng tốt các thao tác lập luận.
-         Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn đạt.
-         Có những cách viết sáng tạo, độc đáo.
2.      Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể viết theo những cách khác nhau miễn là thuyết phục trên cơ sở lập trường tư tưởng sau: cần linh hoạt, ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh sống, tùy thời điểm và điều kiện mà “sống nhanh” hay “sống chậm” miễn là sống có ích, có ý nghĩa, kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ.
3.      Biểu điểm
-         Điểm 6-7 : đáp ứng tốt các yêu cầu trên, có thể còn vài sai sót về diễn đạt.
-         Điểm 4-5 : đáp ứng phần lớn các yêu cầu trên, có thể còn một số sai sót về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 2-3 : đáp ứng được một phần các yêu cầu trên, còn mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 1: không đáp ứng được các yêu cầu trên, mắc nhiều lỗi về diễn đạt, chính tả.
-         Điểm 0: không làm bài.