Hiển thị các bài đăng có nhãn Định hướng của BGD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Định hướng của BGD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

Bộ GD-ĐT cho phép đánh giá và kế thừa những nội dung đã học trực tuyến


Bộ GD-ĐT vừa có công văn hướng dẫn về việc tăng cường dạy học qua internet, trên truyền hình trong thời gian nghỉ học để phòng, chống Covid-19, trong đó yêu cầu xem xét, kế thừa những nội dung đã học qua hình thức này. 
Theo công văn, trước diễn biến phức tạp của Covid-19, trong thời gian học sinh phổ thông, học viên giáo dục thường xuyên tạm thời nghỉ học, Bộ GD-ĐT yêu cầu các sở GD-ĐT tiếp tục tăng cường các hình thức dạy học qua internet, truyền hình.
Cụ thể, các sở GD-ĐT cần chỉ đạo, hướng dẫn các nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng dẫn tại công văn số 4612 của Bộ GD-ĐT về việc hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành để tổ chức dạy học qua internet, trên truyền hình một cách phù hợp. Trong quá trình triển khai thực hiện, cần tham khảo, sử dụng các nguồn học liệu tin cậy, chuẩn xác để tổ chức dạy học và hướng dẫn học sinh học tập.
Chỉ đạo, hướng dẫn các nhà trường lựa chọn công cụ dạy học qua internet phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của từng trường. Trong đó, đặc biệt chú ý đến các điều kiện bảo đảm tổ chức dạy học qua internet có chất lượng. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ hỗ trợ miễn phí các nhà trường tổ chức dạy học qua internet (thông tin liên hệ có tại địa chỉ https://olm.vn và qua hộp thư điện tử a@olm.vn).
Tham mưu UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp với sở GD-ĐT để tổ chức dạy học trên truyền hình một cách phù hợp với điều kiện của địa phương, trong đó lưu ý  lựa chọn đội ngũ giáo viên dạy học và khung giờ phát sóng trên truyền hình, bảo đảm chất lượng, phù hợp với chương trình học của các đối tượng học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Chủ động liên hệ với các địa phương đã triển khai chương trình dạy học trên truyền hình để tham khảo, sử dụng hoặc tiếp sóng cho học sinh tại địa phương học tập; chia sẻ các chương trình dạy học trên truyền hình của địa phương mình với các địa phương khác.
Xây dựng lịch phát sóng cụ thể trên truyền hình đối với từng môn học, lớp học và phổ biến tới toàn thể học sinh, giáo viên và gia đình học sinh; báo cáo lịch phát sóng về Bộ GD-ĐT (qua Cục Công nghệ thông tin để đưa lên Cổng thông tin của Bộ GD-ĐT).
Chỉ đạo các nhà trường phân công giáo viên giao nhiệm vụ học tập theo nội dung bài học và hướng dẫn học sinh thực hiện các buổi học qua internet, trên truyền hình; phối hợp với gia đình học sinh có biện pháp quản lý việc học của học sinh qua internet, trên truyền hình; nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập đã giao cho học sinh.
Chỉ đạo các nhà trường hướng dẫn giáo viên, học sinh tham khảo lịch phát sóng các bài học (do Bộ GD-ĐT phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam xây dựng) trên Kênh truyền hình giáo dục quốc gia (kênh VTV7 và một số kênh khác) và các kênh truyền hình khác được công bố trên Cổng thông tin của Bộ GD-ĐT (tại địa chỉ http://www.moet.gov.vn).
Đáng chú ý, công văn của Bộ GD-ĐT yêu cầu: khi học sinh đi học trở lại, các trường cần đánh giá kết quả học tập qua internet, trên truyền hình, từ đó, hướng dẫn giáo viên rà soát, tinh giản nội dung dạy học và điều chỉnh kế hoạch dạy học theo hướng kế thừa những nội dung kiến thức đã học qua internet hay truyền hình, nhằm tối ưu thời gian và nội dung kiến thức cần tiếp tục dạy học.

Môn ngữ văn: Kiểm tra, đánh giá theo chương trình SGK mới 2018

https://www.giaoduc.edu.vn/mon-ngu-van-kiem-tra-danh-gia-theo-chuong-trinh.htm

Nhiu ngưi băn khoăn nếu hc các b sách giáo khoa (SGK) ng văn khác nhau thì s kim tra, thi c, đánh giá thế nào?
Tiết hc môn ng văn ca hc sinh lp 12 Trưng THPT Nguyn Th Diu (Q.3, TP.HCM). Ảnh: Anh Khôi
Với việc kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ của mỗi trường thì không có gì khó, nhưng với kỳ thi kiểm tra trên diện rộng như thi tốt nghiệp cuối cấp, thi tuyển chọn vào trường THPT thì không đơn giản. Về lý thuyết khi thực hiện dạy học theo nhiều SGK thì việc kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào yêu cầu của chương trình, đánh giá theo chương trình. Các SGK cụ thể không còn là chỗ dựa để ra đề kiểm tra, thi cử như lâu nay nữa. Tuy nhiên cần lưu ý, việc kiểm tra thường xuyên vẫn phải dựa vào các SGK cụ thể mà nhà trường đã chọn. Ví dụ, khi học sinh học xong tác phẩm Lão Hạc (Nam Cao) hay bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu), giáo viên vẫn phải dựa vào các văn bản tác phẩm này để ra đề kiểm tra xem các em có hiểu và đạt được các yêu cầu do chương trình đề ra không. Nhưng khi đánh giá cuối kỳ, cuối năm, đặc biệt thi vào trường THPT hoặc thi cuối cấp học, để đánh giá đúng năng lực ngữ văn, chương trình 2018 đã lưu ý: a) Cần đổi mới cách thức đánh giá (cấu trúc đề, cách nêu câu hỏi, độ khó...); b) Sử dụng, khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép tài liệu có sẵn; c) Tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học.
Như thế cần xem yêu cầu cần đạt của chương trình mỗi lớp, trong đó các lớp cuối cấp là hết sức quan trọng, tập trung vào yêu cầu đọc hiểu và viết. Yêu cầu cần đạt nêu trong chương trình mỗi lớp là yêu cầu cho cả một năm học. Vì thế giáo viên và tổ bộ môn cần có kế hoạch đánh giá ngay từ đầu năm cho mỗi lớp để xác định rõ: a) Đánh giá các năng lực đọc, viết, nói và nghe theo chương trình gồm những yêu cầu nào? b) Đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin sẽ thực hiện qua các bài nào? Bằng hình thức gì? c) Đánh giá năng lực viết văn bản như thế nào? Mấy bài viết, kiểu văn bản, thời gian?… d) Đặc biệt cấu trúc của đề kiểm tra đánh giá định kỳ và các kỳ thi quan trọng như thế nào, tỉ lệ giữa đọc hiểu và viết, giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội…? e) Đánh giá năng lực nói và nghe cũng như các phẩm chất và năng lực chung bằng cách nào?
Cần phân biệt đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết. Đánh giá năng lực đọc hiểu chỉ cần tập trung vào yêu cầu hiểu văn bản, kiểm tra thông tin phản hồi của học sinh là chính, không cần chú ý kỹ năng viết nên có thể sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan để quét được nhiều đơn vị kiến thức, đáp ứng được nhiều yêu cầu đọc hiểu văn bản giống như cách làm của PISA (Programme for International Student Assessment). Trong khi đó, đánh giá năng lực viết kiểm tra được cả đọc hiểu văn bản và kỹ năng viết. Ví dụ, yêu cầu phân tích bài thơ nào đó thì trước hết học sinh phải đọc hiểu, sau đó mới diễn đạt điều mình hiểu thành văn, thể hiện bằng kỹ năng viết (dùng từ, viết câu, diễn đạt, trình bày...).
PGS.TS Đ Ngc Thng

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

BGD hướng dẫn học sinh tự học 2017-2018

Tải về Tài liệu của BGD

------
TẬP HUẤN CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN CỐT CÁN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN HỌC VÀ HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC

 Giới thiệu khóa tập huấn

I. Mục tiêu

  1. Phát triển kĩ năng tổ chức hoạt động học của học sinh ở trường trung học phổ thông (THPT) theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
  2. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán về tổ chức và quản lí hoạt động tự học và trải nghiệm sáng tạo của học sinh THPT.
  3. Tăng cường năng lực tự học qua mạng cho cán bộ quản lý, giáo viên.

II.Nội dung

  1. Những vấn đề chung về phương pháp và kỹ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và tự học; tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh.
  2. Thực hành áp dụng tiêu chí đánh giá bài học và tổ chức hoạt động học/trải nghiệm sáng tạo của học sinh đối với các nội dung dạy học cụ thể theo môn học.
  3. Thực hành xây dựng và thực hiện tiến trình dạy học và xây dựng câu hỏi kiểm tra, đánh giá theo các phương pháp và dạy học tích cực.
Hướng dẫn giáo viên các môn học chủ động lựa chọn nội dung sách giáo khoa hiện hành để xây dựng các bài học theo chủ đề; thiết kế tiến trình dạy học theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học.
Lựa chọn 1 bài học minh họa trong Tài liệu tập huấn của bộ môn.
Nghiên cứu tình huống/nhiệm vụ mở đầu của bài học.

 Ngữ văn

Từ khóa: Ngữ văn
  • Bài 1: Tình huống/nhiệm vụ mở đầu
    Hướng dẫn giáo viên các môn học chủ động lựa chọn nội dung sách giáo khoa hiện hành để xây dựng các bài học theo chủ đề; thiết kế tiến trình dạy học theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học.

  • Bài 2: Hình thành kiến thức
    Mục đích, yêu cầu của bài học:

    1. Nắm được các nội dung trong hoạt động Hình thành kiến thức
    2. Hiểu cách đặt câu hỏi, lệnh trong hoạt động Hình thành kiến thức
    3. Xây dựng hoạt động Hình thành kiến thức
  • Bài 3: Luyện tập
    Mục đích, yêu cầu của bài học:

    1. Nắm được các nội dung trong hoạt động Luyện tập
    2. Xây dựng hoạt động Luyện tập

Tài liệu của BGD hướng dẫn về Trường học mới 2017-2018

Tài liệu của BGD hướng dẫn về Trường học mới 2017-2018:
Đây là tài liệu dành cho GV các lớp được giảng dạy chương trình THCS bộ sách Trường học mới lớp 6-9.
Các GV THPT cũng có thể tham khảo để thiết kế, tổ chức tiết dạy theo định hướng phát triển năng lực HS, đổi mới phương pháp dạy học, dạy học theo dự án...
Tải về nhấp vào đây
---------
  1. Mục đích
Sau bài học, học viên:
            - Hiểu rõ Mô hình trường học mới thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành;
            - Trình bày được Tiêu chí đánh giá bài học theo Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014
  1. Nội dung:
             - Nghiên cứu video clip về các thành tố của mô hình Trường học mới; các tiêu chí đánh giá bài học theo Công văn 5555.
            - Tìm hiểu tài liệu tập huấn về các thành tố của mô hình Trường học mới và các tiêu chí đánh giá bài học theo Công văn 5555.
  1. Cách tiến hành:
            - Đăng kí vào bài học trên mạng bằng Tài khoản của Trường học kết nối. Trường hợp không đăng kí được do số lượng học viên đã vượt quá quy định, đọc kĩ thông tin về lớp học tiếp theo hiện được thông báo trên màn hình để kịp thời đăng kí lần sau.
            - Nghiên cứu tài liệu, video; trong thời gian đó cần kết nối với các học viên khác hoặc với báo cáo viên (bằng cách kích vào nút phía dưới, bên trái màn hình) để trao đổi, thảo luận, hỏi ý kiến tư vấn (hình thức chatting) trong không gian bài học trên mạng.
            - Hoàn thành bài kiểm tra trắc nghiệm cuối bài.
 Tài liệu tham khảo
Giới thiệu chung về mô hình trường học mới
PGS.TS. Nguyễn Xuân Thành, Phó Vụ trưởng Vụ GDTrH, Bộ GDĐT
Mô hình SGK và hoạt động dạy học của THM đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
TS. Nguyễn Vinh Hiển, Nguyên Thứ trưởng Bộ GDĐT
Mô hình dạy học và SGK THM (slide)
TS. Nguyễn Vinh Hiển, Nguyên Thứ trưởng Bộ GDĐT
-----------

Bài 2: Phương pháp và kỹ thuật dạy học theo mô hình trường học mới

  1. Mục đích
Sau bài học, học viên:
            - Hiểu rõ Mô hình trường học mới thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành;
            - Nêu được cấu trúc các hoạt động học trong các bài học theo mô hình trường học mới tuân theo tiến trình sư phạm của các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực;
            - Trình bày được Tiêu chí đánh giá bài học theo Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014
             - Trình bày được mục đích, nội dung, kĩ thuật thực hiện và sản phẩm học tập của học sinh trong các hoạt động của mỗi bài học mô hình Trường học mới;
            - Áp dụng được các tiêu chí đánh giá bài học theo CV 5555 để phân tích hoạt động học của học sinh trong bài học minh họa và các bài học khác theo mô hình trường học mới.
  1. Nội dung:
             - Nghiên cứu các video clip về các thành tố của mô hình Trường học mới; cấu trúc bài học Trường học mới; Phương pháp và kĩ thuật dạy học trong mô hình Trường học mới.
            - Nghiên cứu các video về từng hoạt động học trong bài học minh họa mô hình trường học mới, kèm theo video phân tích hoạt động học của học sinh.
            - Tìm hiểu tài liệu tập huấn về nội dung, phương pháp, kĩ thuật dạy học và KTĐG theo mô hình Trường học mới.
  1. Cách tiến hành:
            - Đăng kí vào bài học trên mạng bằng Tài khoản của Trường học kết nối. Trường hợp không đăng kí được do số lượng học viên đã vượt quá quy định, đọc kĩ thông tin về lớp học tiếp theo hiện được thông báo trên màn hình để kịp thời đăng kí lần sau.
            - Nghiên cứu tài liệu, video; trong thời gian đó cần kết nối với các học viên khác hoặc với báo cáo viên (bằng cách kích vào nút phía dưới, bên trái màn hình) để trao đổi, thảo luận, hỏi ý kiến tư vấn (hình thức chatting) trong không gian bài học trên mạng.
            - Hoàn thành bài kiểm tra trắc nghiệm cuối bài.
 Tài liệu tham khảo
Tổ chức hoạt động học của học sinh theo mô hình trường học mới
Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GDĐT
Sách giáo khoa hướng tới phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
TS. Nguyễn Vinh Hiển, Nguyên Thứ trưởng Bộ GDĐT
-------------

Bài 3: Nghiên cứu kế hoạch bài học theo mô hình trường học mới

Trong bài học này, học viên cần:
1. Tải file tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo đính kèm.
2. Nghiên cứu Tài liệu tham khảo.
3. Trả lời 35 câu hỏi trắc nghiệm của 5 hoạt động.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

BGD HƯỚNG DẪN VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

(Trích Tài liệu tập huấn Đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá của BGD  trong MÔN NGỮ VĂN, tập huấn tại TP-HCM vào tháng 6/2014 ở KS Đại Nam)
                                                          -------------------------------
3. Về đọc hiểu văn bản: Đọc hiểu bất kì một văn bản nào, người đọc cũng phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về VB.
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản.
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống.
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, HS cần thực hiện các nội dung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b)  Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
- Tìm kiếm thông tin: đọc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chi tiết.
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp… thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chi tiết, biện pháp tu từ...  trong VB.
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bản đồ, biểu đồ, đồ thị… (nếu có).
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản.
+ Sắp xếp các chi tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chi tiết được đưa ra.
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản.
+ So sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các nhân vật).
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bản: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng hay sự kiện, so sánh – đối lập, nguyên nhân – kết quả, các lí do/tổng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp.
+  Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết...
Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết.
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn ngữ văn học mà người viết sử dụng).
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với  các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chi tiết…).
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đề hoặc đề tài nào đó.
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu.
+ Đọc các văn bản khác (ngoài CT, SGK) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu.
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi từ nội dung của văn bản đã đọc hiểu.
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu.
Như vậy, việc dạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo. Viết sáng tạo là khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt ra. Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm của đối tượng từ góc độ cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng, ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ, trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc trình bày ra những ý tưởng, giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiễn… Viết sáng tạo được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, với các mức độ khác nhau, do vậy cần tạo ra được những cơ hội để HS thể hiện ngay trong quá trình dạy học đọc hiểu để HS đồng thời phát triển các năng lực trong học tập.
4. Đánh giá kĩ năng đọc trong môn Ngữ văn
Hoạt động đánh giá chủ yếu của môn Ngữ văn hiện nay là đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS. Việc đánh giá kĩ năng nghe và nói của môn học này chưa được đề cập đến nhiều trong các nội dung học tập. Do vậy tài liệu chủ yếu trình bày những nội dung về đánh giá kĩ năng đọc và viết của HS trong môn học này.
a) Đánh giá kĩ năng đọc hiểu của HS: ở trường THPT, kĩ năng đọc hiểu (ĐH) rất được coi trọng. Phần lớn bài học trong CT và SGK hiện nay là bài học về VB văn  học. Tuy nhiên, càng lên khối lớp cao hơn, nhất là ở các khối lớp của cấp THPT, việc ĐH và cảm thụ lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra khá phổ biến. Trong các giờ DH văn học, HS thường nghe và ghi chép lại những bài giảng của GV hơn là tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá VB. Hơn nữa, VB được ĐH chủ yếu là văn bản văn học, có rất ít văn bản nhật dụng được đưa vào CT, SGK. Việc đánh giá kĩ năng đọc của HS hiện nay thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu cầu HS nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề nào đó của VB đã học). Hình thức này chưa đánh giá được NL đọc hiểu các loại VB khác nhau của người học.
Vì vậy, cần đổi mới đánh giá kĩ năng ĐH của HS bằng việc đưa ra những VB mới (bao gồm cả VBVH và VBND, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với VB đã học trong CT, SGK), yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ VB mới này. Các câu hỏi đánh giá kĩ năng ĐH và cảm thụ nên được thiết kế theo cách làm của PISA, bao gồm: câu hỏi mở yêu cầu trả lời ngắn; câu hỏi mở yêu cầu trả lời dài; câu hỏi đóng yêu cầu trả lời dựa trên những trả lời có sẵn; câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn; câu hỏi có – không, đúng –sai phức hợp.
Đánh giá kĩ năng ĐH của HS phải được tiến hành thường xuyên trong các bài kiểm tra từ 1-2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm, thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ.
Cần coi các biểu hiện của kĩ năng đọc đã trình bày ở trên là chuẩn để đánh giá khả năng đọc hiểu của HS. Ngoài ra, có thể vận dụng 6 mức độ mà Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) đã nêu để đánh giá kĩ năng ĐH của HS như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chi tiết và cụ thể. Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mỉ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều VB và có thể tích hợp thông tin từ nhiều VB. Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý tưởng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của VB. Phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một VB có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc về VB. Một điều kiện quan trọng đối với phản ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chi tiết nhỏ trong VB.
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mảng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong VB. Các nhiệm vụ phản ánh đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/chuyên ngành. Cả hai nhiệm vụ diễn giảiphản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một VB có nội dung hoặc hình thức mới (không được in trong SGK – chúng tôi nhấn mạnh). Đối với tất cả các khía cạnh của đọc, nhiệm vụ ở cấp độ này thường liên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường.
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong VB. Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của VB. Các nhiệm vụ diễn giải khác đòi hỏi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới. Các nhiệm vụ phản ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử dụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một VB. Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một VB dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc.
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin. Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một VB để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ.  Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại. Các thông tin đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiễu, hoặc có những trở ngại khác từ VB, chẳng hạn như các ý tưởng (của người viết)  trái với kỳ vọng/suy nghĩ thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực. Những nhiệm vụ phản ánh ở mức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của VB. Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của VB liên quan đến tri thức hàng ngày. Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chi tiết VB, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến ​​thức ít phổ biến hơn.
- Mức độ 2: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định. Những yêu cầu khác như nhận ra nội dung chính của một VB, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích ý nghĩa của một phần của VB được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa ra được suy luận ở mức độ thấp. Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh hoặc tương phản dựa trên một đặc điểm nào đó của VB. Các nhiệm vụ phản ánh tiêu biểu ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các VB và kiến thức bên ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân.
- Mức độ 1a: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một VB về một đề tài quen thuộc, hoặc để tạo ra một kết nối đơn giản giữa các thông tin trong các VB và kiến thức thông thường hàng ngày. Thông thường các thông tin cần thiết trong VB là nổi bật và có rất ít tính cạnh tranh/nhiễu. Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan trong nhiệm vụ và trong VB.
- Mức độ 1b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một VB đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một VB tự sự hay một bản danh sách đơn giản. Các VB thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu. Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa các thông tin gần kề nhau.
Như vậy, theo cách diễn giải của PISA, mức độ 6, 5, 4 bao gồm việc hiểu VB được học, vận dụng vào đọc VB mới; các mức độ còn lại áp dụng với những VB được học hoặc quen thuộc với người đọc.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Ôn thi quốc gia 2016: tăng cường khả năng tự học

TT - Xung quanh vấn đề ôn tập cho học sinh, Tuổi Trẻ trao đổi với TS Vũ Đình Chuẩn, vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ GD-ĐT.
Học sinh cần rèn khả năng tự học
Học sinh lớp 12A10 Trường THPT Võ Thị Sáu (Q.Bình Thạnh, TP.HCM) trong tiết học sử - Ảnh: N.Hùng
* Theo ông, khi nào thì các nhà trường được phép tăng tiết ôn tập với 8 môn thi? Việc học hết chương trình lớp 12 như quy định rồi mới ôn tập có quá trễ không?
- Theo định hướng đề thi THPT quốc gia, ngoài các kiến thức căn bản, nền tảng sẽ có một tỉ lệ nhất định các câu hỏi yêu cầu học sinh hiểu và vận dụng kiến thức ở những mức độ khác nhau.
Những câu hỏi này mang tính phân hóa nhằm mục đích sàng lọc, phục vụ cho công tác xét tuyển ĐH-CĐ dựa vào kết quả thi THPT của thí sinh. Vì vậy, để học sinh có thể đạt được kết quả để công nhận tốt nghiệp THPT và trúng tuyển vào ĐH-CĐ, các nhà trường phải cho học sinh tự ôn tập theo hướng này.
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, các nhà trường, thầy cô giáo phải chú trọng việc rèn cho học sinh năng lực tự học, tự ôn tập trong cả quá trình học, sau mỗi chương của môn học, ôn tập giữa kỳ, cuối kỳ chứ không dồn vào cuối năm học, trước kỳ thi.
Cũng nằm trong định hướng đổi mới giáo dục, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo trong nhiệm vụ năm học, yêu cầu các nhà trường tăng cường những hoạt động trải nghiệm sáng tạo, thiết kế chương trình học theo hướng giúp học sinh làm quen với các kỹ năng phân tích, hệ thống hóa kiến thức, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề đặt ra, liên hệ với thực tế cuộc sống...
Hiện nay, các nhà trường đều nắm được chỉ đạo này. Nếu thực hiện đúng thì ngay trong quá trình dạy học, học sinh đã được rèn luyện, ôn tập rồi.
Còn việc tăng cường ôn tập cho học sinh lớp 12, các trường THPT cần xây dựng kế hoạch phù hợp nhưng phải tuân thủ quy định, đảm bảo hoàn thành chương trình lớp 12; kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh học kỳ II và cả năm học theo đúng quy định hiện hành.
Bộ GD-ĐT không cho phép các nhà trường cắt xén chương trình, học dồn các môn học, để dành thời gian cho học sinh ôn tập sớm hơn, không đảm bảo chất lượng.
Trong giai đoạn ôn tập cuối cùng, các nhà trường cần tổ chức phân loại trình độ học sinh để có giải pháp phụ đạo đối với học sinh yếu kém, học sinh hổng kiến thức một số môn học.
Các trường có thể tổ chức cho học sinh ôn thi theo môn mà các em lựa chọn, học sinh có nhu cầu ôn tập, phụ đạo không bắt buộc ngoài giờ học chính khóa với 8 môn thi.
Học sinh cần rèn khả năng tự học
TS Vũ Đình Chuẩn - Ảnh: N.Khánh
* Nhiều trường THPT cho rằng với một kỳ thi có nhiều thay đổi, Bộ GD-ĐT cần công bố cấu trúc đề thi hoặc định hướng cụ thể hơn về nội dung đề thi, phạm vi kiến thức có thể ra đề thi. Ông có thể chia sẻ về việc này?
- Bộ GD-ĐT không ban hành cấu trúc đề thi, không giới hạn kiến thức trong chương trình. Đề thi THPT quốc gia năm 2016 nằm trong chương trình THPT, chủ yếu lớp 12. Đề thi tiếp tục sử dụng các câu hỏi với bốn mức yêu cầu là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao.
Đặc biệt sẽ tăng tỉ lệ các câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức tổng hợp để trả lời, chứ không đặt nặng việc ghi nhớ máy móc số liệu, sự kiện hay trả lời theo khuôn mẫu có sẵn. Điều này cũng đúng với định hướng bộ đã yêu cầu các trường phổ thông thực hiện về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá những năm qua.
Vì vậy, học sinh chỉ cần nắm vững kiến thức cơ bản, ôn tập thêm theo các chuyên đề, theo hướng dẫn của giáo viên nhằm hệ thống kiến thức, biết cách vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề đặt ra.
* Đề thi các năm gần đây đều có câu hỏi mở để thí sinh có thêm điểm, cạnh tranh vào các trường ĐH-CĐ. Nhưng giáo viên vẫn lúng túng với việc “mở” thế nào, “mở” đến đâu để ôn tập cho học sinh. Bộ GD-ĐT có hướng dẫn cụ thể gì cho loại câu hỏi này?
- Từ năm 2010, Bộ GD-ĐT đã hướng dẫn giáo viên phổ thông qua các đợt tập huấn về việc biên soạn đề kiểm tra theo ma trận với bốn mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao như yêu cầu của đề thi trong những năm qua, đặc biệt là năm 2015.
Đồng thời, bộ cũng đã tổ chức nhiều đợt tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Câu hỏi mở thường đưa vào đề thi các môn khoa học xã hội, khuyến khích thí sinh bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, tình cảm về những vấn đề thời sự của quê hương, đất nước, các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Việc này cũng phù hợp với định hướng dạy học phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
Qua thực tế dạy học, kiểm tra, đánh giá, qua các hội thi mà nhiều trường phổ thông đã làm trong thời gian qua, tôi cho rằng nói giáo viên lúng túng, xa lạ với đề thi có câu hỏi mở là chưa chính xác.
Dĩ nhiên, không phải tất cả học sinh đều có thể đáp ứng yêu cầu của câu hỏi mở. Đề thi THPT quốc gia sẽ có những phần câu hỏi cơ bản để học sinh đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp THPT.
Các câu hỏi có tính phân hóa cao, câu hỏi mở dành cho học sinh ghi điểm để xét tuyển ĐH-CĐ. Số học sinh đạt điểm tối đa cho các câu hỏi này sẽ không nhiều.
* Năm nay, kỳ thi THPT quốc gia diễn ra vào đầu tháng 7. Ông có hướng dẫn gì đối với các nhà trường trong việc tổ chức ôn tập cho học sinh? Và lời khuyên gì đối với các thí sinh ở thời điểm nước rút này?
- Theo quy định, năm học sẽ kết thúc vào cuối tháng 5. Học sinh lớp 12 khi đó không bắt buộc phải đến trường, phải đi học. Tuy nhiên, nếu bỏ hẳn một tháng, các thí sinh sẽ khó bắt nhịp được vào kỳ thi, kiến thức có thể mai một.
Vì thế, các bậc phụ huynh phải hỗ trợ con em mình trong việc xây dựng kế hoạch tự học trong thời gian này. Các nhà trường cũng có thể tổ chức ôn tập cho học sinh nhưng phải trên tinh thần tự nguyện, đảm bảo chất lượng.
Một tháng trước khi thi, các thí sinh không nên chạy đua vào nhiều lò luyện, lớp ôn thi mà cần dành thời gian hệ thống lại kiến thức, kiểm tra xem mình còn yếu, thiếu phần nào thì bổ sung phần đó.
Các em cần giữ gìn sức khỏe, rèn luyện để có tâm lý vững vàng bước vào kỳ thi, thay cho việc lao vào ôn tập căng thẳng và thiếu khoa học.
VĨNH HÀ thực hiện (chuhongvan@tuoitre.com.vn)

BÌNH LUẬN (3)