Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

BẮT NẠT BẠN BÈ


 Phụ huynh thiếu hiểu biết về nạn bắt nạt bạn bè

Theo khảo sát của Bộ Giáo dục công bố vào thứ Tư, chỉ có một phần ba phụ huynh được hỏi biết là con mình dính líu tới chuyện bắt nạt bạn bè.
Cuộc khảo sát tiến hành từ tháng 12 năm 1994 đến tháng 1 năm 1995, có sự tham gia của 19.000 phụ huynh, giáo viên và học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, đây là những nơi đang xảy ra chuyện bắt nạt bạn bè.
Cuộc khảo sát đầu tiên về sự việc này do Bộ tiến hành trên học sinh từ lớp bốn trở lên. Theo cuộc khảo sát, có 22% học sinh tiểu học cho biết các em bị bạn bè bắt nạt, trong khi học sinh trung học cơ sở là 13% và học sinh trung học phổ thông là 4%.
Mặt khác, có 26% học sinh tiểu học cho biết các em bị bắt nạt, trong khi tỉ lệ giảm dần ở cấp trung học cơ sở là 20% và 6% ở cấp phổ thông.
Trong số những người trả lời, có 39% đến 65% cho biết mình đã từng bị bạn bè bắt nạt.
Cuộc khảo sát cho thấy có 37% phụ huynh học sinh tiểu học bị bắt nạt có biết về con em mình là đối tượng bị bắt nạt. Con số 34% là phụ huynh học sinh trung học cơ sở và 18% phụ huynh học sinh trung học phổ thông.
Trong số phụ huynh biết về chuyện bắt nạt, có 14% đến 18% nói là mình được giáo viên thông tin về việc này. Chỉ có 3 đến 4% phụ huynh biết con mình bị bắt nạt là theo cuộc điều tra.
Ngoài ra, cuộc điều tra còn phát hiện có 42% giáo viên tiểu học không biết chính học sinh của mình là đối tượng bắt nạt. Tỉ lệ giáo viên trung học cơ sở là 29% và trung học phổ thông là 69%.
Khi được hỏi về lí do đằng sau chuyện bắt nạt, có khoảng 85% giáo viên cho biết là do thiếu giáo dục ở nhà. Nhiều bậc phụ huynh cho rằng thiếu hiểu biết về pháp luật và lòng nhân ái ở trẻ là lí do chính.
Một chuyên viên của Bộ Giáo dục cho biết một số ý kiến đề xuất cha mẹ và gia đình nên gần gũi chuyện trò hơn nữa với con em mình để tránh chuyện bắt nạt.
Chuyện bắt nạt ở trường trở thành vấn nạn chính ở Nhật Bản sau khi Kiyoteru Okouchi 13 tuổi treo cổ tự vẫn ở Nishio, Aichi Prefecture, vào mùa thu năm 1994, để lại thư viết rằng một số bạn học cùng lớp đã nhiều lần dìm em xuống nước và moi tiền của em.
Hành động bắt nạt – tự sát đã thúc đẩy Bộ Giáo dục công bố báo cáo về nạn bắt nạt vào tháng 3 năm 1995, trong đó đề nghị giáo viên có biện pháp đuổi học những học sinh hay bắt nạt.
Nguồn: Kyodo, The Japan Times Ltd., Tokyo, ngày 23 tháng 5 năm 1996.






Bài báo trên đăng tải trên một tờ báo Nhật Bản năm 1996. Đọc và trả lời các câu hỏi sau đây.
Câu hỏi 1: BẮT NẠT BẠN BÈ                                                 R02Q01 – 0   1  9
Tại sao bài báo lại đề cập tới cái chết của Kiyoteru Okouchi?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Câu hỏi 2: BẮT NẠT BẠN BÈ                                               R02Q02  – 0   1   9
Tỉ lệ giáo viên ở mỗi cấp học không biết về việc học sinh của mình đang bị bắt nạt?
Khoanh tròn đáp án (A, B, C hoặc D) thể hiện đúng nhất.

A









B





















THPT  



THPT  




















THCS  





THCS  



















Tiểu học  





Tiểu học  




















                      0          20       40       60       80   100                       0      20           40     60      80      100

% giáo viên không biết về nạn bắt nạt

% giáo viên không biết về nạn bắt nạt
























C






D

















THPT  





THPT  






















THCS  




THCS  






















Tiểu học  




Tiểu học  






















                       0          20       40       60       80   100                       0      20           40     60      80      100

% giáo viên không biết về nạn bắt nạt

% giáo viên không biết về nạn bắt nạt


Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Lớp 9: Đề KT 45 phút



I) Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!

1) Khổ thơ trên trích từ bài thơ nào? Của tác giả nào?
-Khổ thơ trên trích từ bài Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương

2) Hoàn cảnh sáng tác bài thơ có gì đặc biệt
- Bài thơ được sáng tác trong một lần Viễn Phương ra Hà Nội thăm lăng của Bác. Từ trên đường từ Nam ra Bắc, ông đã rất ấn tượng với cảnh vật xung quanh. Khi vào trong lăng, cảm xác đó lại càng nhiều hơn. Và tác giả đã sáng tác bài “ Viếng lăng Bác” trong lúc đó

3) Tìm một hình ảnh thơ mang ý ẩn dụ trong đoạn thơ trên. Cho biết ý nghĩa của hình ảnh ẩn dụ đó. Chỉ thêm 2 hình ảnh mang ý ẩn dụ khác trong bài
- Hình ảnh ẩn dụ trong đoạn trên là: “vầng trăng”. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng làm việc của Bác, lúc nào cũng có vầng trăng bên cạnh bầu bạn. Còn bây giờ, trong giấc ngủ yên, vầng trăng ấy mới thật sự là vầng trăng yên bình, để Bác nghỉ ngơi và ngắm. Trăng dịu hiền, soi sáng hình ảnh Bác

- Hai hình ảnh ẩn dụ khác trong bài là:
+ Hình ảnh hàng tre trong đoạn
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

+ Hình ảnh mặt trời trong đoạn
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

4) Cho biết nội dung chính của đoạn thơ trên.
 - Nội dung chính : đoạn thơ bày tỏ niềm kính trọng, biết ơn cũng như nỗi niềm thương mến của tác giả khi nhìn thấy Bác – vị anh hùng kính yêu của dâng tộc đang nằm trong giấc ngủ. Một giấc ngủ ngàn thu mà Bác sẽ không bao giờ tỉnh dậy




II) Các bài thơ hiện đại trong chương trình lớp 9 HK2 đã thể hiện nhưng lẽ sống cao đẹp. Chọn và trình bày cảm nhận của mình về những lẽ sống cao đẹp ấy qua một khổ thơ hoặc đoạn thơ bằng một văn bản 25-30 dòng

Bài làm
       Tố Hữu – nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải – đã viết trong bài “Một khúc ca xuân” những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết. Đó là “lặng lẽ dâng cho đời”. Còn Thanh Hải khi viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam. Trong đó, hai đoạn dưới dây thể hiện rõ nhất điều đó
“Ta làm con chim hót,
Ta làm một cành hoa.
Ta nhập vào hoà ca,
Một nốt trầm xao xuyến

Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.

       Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót, một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau. Quan niệm sống ấy của Thanh Hải thật giống với quan niệm sống của Tố Hữu:

                                                “Nếu là con chim, chiếc lá,
                                        Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
                                                 Lẽ nào vay mà không trả,
                                        Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

       Đến khổ thơ tiếp theo, tác giả đã giúp ta hiểu rõ hơn nhan đề của bài thơ – Mùa xuân nho nhỏ:
                                                  “Một mùa xuân nho nhỏ
                                                    Lặng lẽ dâng cho đời
                                                    Dù là tuổi hai mươi
                                                    Dù là khi tóc bạc”.

       “Mùa xuân” là ý niệm chỉ thời gian nhưng “mùa xuân nho nhỏ ở đây của tác giả đã trở thành lẽ sống đẹp, lý tưởng. “Lặng lẽ dâng” ước vông tha thiết khiêm tốn cả cuộ đời cho đi mà không hề đòi hỏi. “Lặng lẽ” một hành động âm thần, tự nguyện không ồn ào, khồng cần mọi người biết đến. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương, đất nước mến yêu của chính mình. Già - cống hiến tuổi già, trẻ - cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi.
      
          Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

BGD hướng dẫn về giáo dục kỹ năng sống đối với cấp mầm non, phổ thông và GDTX

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số: 463/BGDĐT - GDTX
V/v hướng dẫn triển khai thực hiện
giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở
GDMN,GDPT và GDTX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2015

Kính gửi: Các sở giáo dục và đào tạo

Thực hiện Chỉ thị số 3008/CT-BGDĐT ngày 18/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non (GDMN), giáo dục
phổ thông (GDPT), giáo dục thường xuyên (GDTX) và giáo dục chuyên nghiệp năm học
2014-2015, Bộ GDĐT hướng dẫn việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống (KNS) tại các cơ sở
GDMN,GDPT và GDTX (sau đây gọi chung là các cơ sở giáo dục) cụ thể như sau:
I. Mục đích
1. Đẩy mạnh hoạt động giáo dục KNS cho học sinh (HS) theo định hướng phát
triển toàn diện phẩm chất và năng lực của HS gắn với định hướng nghề nghiệp;
2. Giúp giáo viên chủ động, tích cực trong việc tự bồi dưỡng KNS cho bản thân và
giáo dục KNS cho HS;
3. Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tạo môi trường
thuận lợi để giáo dục KNS cho HS.
II. Yêu cầu
1. Việc tổ chức giáo dục KNS cho HS phải đảm bảo an toàn, nghiêm túc, thiết thực,
hiệu quả, phát huy tính tự quản, chủ động, sáng tạo của HS;
2. Căn cứ điều kiện của nhà trường, thực tế của địa phương và đặc điểm tâm sinh
lý, lứa tuổi, khả năng, nhu cầu của HS để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho HS,
tránh việc tổ chức hình thức, quá tải, khiên cưỡng; không gây áp lực, không ép buộc HS
tham gia;
3. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tranh thủ sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính
quyền, sự hỗ trợ của phụ huynh HS, các đoàn thể, các đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa
bàn.
4. Công tác quản lý giáo dục KNS phải chặt chẽ, theo đúng quy định tại Thông tư
số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28/02/2014 của Bộ trưởng Bộ GDĐT quy định về quản lý
hoạt động giáo dục KNS và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa.
III. Nội dung giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình thành
những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và
thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất
nước. Nội dung giáo dục KNS phải phù hợp với từng lứa tuổi và tiếp tục được rèn luyện
theo mức độ tăng dần. Đối với từng nhóm đối tượng, việc giáo dục KNS cần tập trung vào
những nội dung sau:
1. Đối với trẻ mầm non:
Giúp trẻ nhận thức về bản thân: sự tự tin, tự lực, thực hiện những quy tắc an toàn
thông thường, biết làm một số việc đơn giản; hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội
cần thiết: thể hiện tình cảm, sự chia sẻ, hợp tác, kiên trì, vượt khó; hình thành một số kỹ
năng ứng xử phù hợp với gia đình, cộng đồng, bạn bè và môi trường.
2. Đối với học sinh tiểu học:
Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở mầm non, tập trung hình thành
cho HS kỹ năng giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè; kỹ năng xây dựng tình bạn đẹp; kỹ
năng kiên trì trong học tập; kỹ năng đúng giờ và làm việc theo yêu cầu, kỹ năng đồng
cảm,... tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và
năng lực của HS.
3. Đối với học sinh trung học và học viên GDTX cấp THCS và cấp THPT
Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở tiểu học, tập trung giáo dục những
KNS cốt lõi, có ý nghĩa thiết thực cho người học như: kỹ năng ra quyết định và giải quyết
vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng tự
nhận thức và cảm thông, kỹ năng quản lý cảm xúc và đương đầu với áp lực, kỹ năng tự
học.
4. Đối với người học tại các trung tâm học tập cộng đồng:
Tập trung bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự cần thiết của việc
giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống; hình thành và phát triển một số kỹ năng cơ bản
như: kỹ năng học và tự học suốt đời; kỹ năng phát triển cá nhân và nghề nghiệp; kỹ năng
tổ chức công việc hiệu quả; kỹ năng giao tiếp và tạo lập quan hệ xã hội; kỹ năng lắng
nghe; kỹ năng chấp nhận sự khác biệt; kỹ năng lựa chọn lối sống khỏe mạnh; kỹ năng làm
việc thiện nguyện và phục vụ cộng đồng.
IV. Phương thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống
- Các cơ sở giáo dục chủ động tổ chức các hoạt động giáo dục KNS hoặc liên kết
với các đơn vị để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS. Để đảm bảo chất lượng của hoạt
động giáo dục KNS, khuyến khích các cơ sở giáo dục liên kết với các đơn vị vừa có
chương trình giáo dục KNS cho người học vừa có chương trình bồi dưỡng, tập huấn giáo
viên về giáo dục KNS.
3
- Giáo dục KNS thông qua việc tích hợp vào các môn học và các hoạt động giáo
dục; đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy - học theo hướng
tăng cường hoạt động học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học;
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường, tập trung
vào việc giáo dục những KNS cơ bản, qua đó hình thành cho HS các giá trị sống, KNS
tích cực;
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí, tổ chức các hoạt động
giáo dục KNS.
V. Tổ chức thực hiện
1. Sở GDĐT hướng dẫn việc triển khai tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho
các cơ sở giáo dục trên địa bàn; tổ chức tập huấn giáo viên tích hợp giáo dục KNS vào các
môn học; xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên dạy KNS tại các cơ sở giáo dục.
2. Các cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục KNS phù hợp với
tình hình thực tế của nhà trường, đặc điểm của địa phương, nhu cầu và khả năng của HS.
3. Các trung tâm GDTX cử giáo viên tham gia các khóa đào tạo về giáo dục KNS;
phối hợp với các trường mầm non, phổ thông tổ chức các hoạt động giáo dục KNS ngoài
giờ chính khóa, các lớp giáo dục KNS vào dịp hè cho HS.
Nhận được công văn này, Bộ GDĐT yêu cầu các sở GDĐT hướng dẫn các cơ sở
giáo dục triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề
nghị báo cáo về Bộ GDĐT (qua Vụ Giáo dục thường xuyên) để kịp thời xử lý.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
-Vụ GDMN, GDTH, GDTrH, Công tác HSSV,
Cục NG&CBQLCSGD, Cục KT&KĐCLGD,
Thanh tra Bộ (để thực hiện);
- Lưu VT, Vụ GDTX.