Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Ví dụ ra đề theo định hướng phát triển NL môn Ngữ Văn

MỘT NGƯỜI HÀ NỘI (Trích)
“…Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn luôn là thời vàng son. Mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi lứa tuổi. Cô nói với tôi thế, đã biết nói thế đâu phải đã già. Mấy ngày sau, cô kể tiếp, thành phố cho máy cẩu tới đặt bên kia bờ quàng dây tời vào thân cây si rồi kéo dần lên, mỗi ngày một tí. Sau một tháng, cây lại sống, lại trổ ra lá non, vẫn là cây si của nhiều thế hệ Hà Nội, nghĩ cứ lạ, tưởng là chết đứt bổ ra làm củi, mà lại sống. Cô nói thêm: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”. Cô muốn mở rộng sự tính toán vốn dĩ đã rất khôn ngoan của mình lên thêm một tầng nữa chăng, cái tầng vô hình, không thể biết, nhưng phải biết trên đời này còn có nhiều lí sự không thể biết để khỏi bị bó vào những cái có thể biết. Bà già vẫn giỏi quá, bà hiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi chìm sâu vào lớp đất cổ. Những bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng…”
(Nguyễn Khải, SGK Ngữ văn 12, tập 2, Nxb GD 2008)
 Câu hỏi 1: Nhân vật “Tôi” trong đoạn trích là ai?
A.    Tác giả Nguyễn Khải
B.     Đám đông những người Hà Nội
C.     Cô Hiền
D.    Nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 1
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng khái quát thông tin chính của văn bản.
Mức đầy đủ
 Mã 2: Phương án D
Mức không tính điểm
Mã 0: Các phương án khác
Mã 9: Không trả lời
Câu hỏi 2: Dòng nào dưới đây nêu được sự thành công của tác giả trong việc xây dựng nhân vật bà Hiền?
A.    Thể hiện được những tình cảm cao đẹp của người Hà Nội
B.     Thể hiện được những truyền thống tốt đẹp trong cách đối nhân xử thế của người Hà Nội.
C.     Thể hiện được rõ và sinh động cá tính của người Hà Nội.
D.    Thể hiện được cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu văn hóa của người Hà Nội.
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 2
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng khái quát thông tin của văn bản.
Mức đầy đủ
Mã 2: Phương án D
Mức không tính điểm
Mã 0: Các phương án khác
Mã 9: Không trả lời
Câu hỏi 3: Câu nói của nhân vật Hiền: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được…” có ý nghĩa gì?
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 3
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu ý nghĩa của văn bản.
Mức đầy đủ
Mã 2: HS nêu được ý nghĩa khái quát của câu nói: đó là những suy nghĩ về lẽ đời, về quy luật của sự sống....
Mức không đầy đủ
Mã 1: Có thể nêu được ý: quy luật của sự sống hoặc nêu các ý sơ sài....
Mức không tính điểm
Mã 0: Có câu trả lời khác
Mã 9: Không trả lời
Câu hỏi 4:  Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về lời bình luận của người kể chuyện: “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi chìm sâu vào lớp đất cổ. Những bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng…”
HƯỚNG DẪN CHẤM CÂU 4
Mục đích của câu hỏi nhằm đánh giá khả năng thể hiện cách hiểu và cảm nhận của HS về lời bình luận của người kể chuyện: đó là một biểu tượng “đắt” thể hiện được niềm trân trọng, lòng yêu quý thiết tha của tác giả đối với một “người Hà Nội” cũng như mọi người Hà Nội; gợi sự suy ngẫm về sức sống của truyền thống “người Hà Nội” trong cộng đồng người Việt Nam…
Mức đầy đủ
     Mã 3: Bài làm của HS đạt được những yêu cầu sau:
-         Tạo lập được đoạn văn, đảm bảo logic về ý.
-         Diễn đạt sáng rõ, đúng chính tả
-         Thể hiện được cảm nhận sâu sắc của cá nhân về lời bình luận của người kể chuyện: đó là một biểu tượng “đắt” thể hiện được niềm trân trọng, lòng yêu quý thiết tha của tác giả đối với một “người Hà Nội” cũng như mọi người Hà Nội; gợi sự suy ngẫm về sức sống của truyền thống “người Hà Nội” trong cộng đồng người Việt Nam…
Mức không đầy đủ
      Mã 2: Viết được đoạn văn, trình bày được một số ý, nhưng chưa thật đầy đủ, sâu sắc.
      Mã 1: Chỉ viết được 1 vài câu, ý sơ sài
Mức không tính điểm
      Mã 0: Viết sai lạc nội dung.
      Mã 9: Không trả lời


Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực từ 2014


Nghị quyết số 29 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 8 (khóa XI) đã xác định Giáo dục và đào tạo Việt Nam cần đổi mới một cách căn bản, toàn diện. Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 103/KH-BGDĐT về việc tổ chức hội thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông”, với mục đích: nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch triển khai việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực tiễn.

Chủ trương chuyển đổi cách tiếp cận chương trình giáo dục từ hướng cung cấp nội dung sang cách tiếp cận hình thành và phát triển năng lực là một trong những đổi mới căn bản. 

Đổi mới căn bản ấy cần phải tiến hành một cách toàn diện ở tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục: từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến kiểm tra, đánh giá… 

Để có cơ sở đổi mới kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, không thể không xác định một số nội dung quan trọng: Năng lực và năng lực Ngữ văn là gì? Đánh gía năng lực Ngữ văn như thế nào? 

Từ đó đề xuất hướng ra đề theo yêu cầu đánh giá năng lực với các ví dụ cụ thể. Bài viết này tập trung bàn về các vấn đề đó.

I. Năng lực và đánh giá năng lực Ngữ văn

1. Năng lực

Năng lực là một khái niệm then chốt chi phối việc đổi mới căn bản chương trình giáo dục mới. Có rất nhiều loại năng lực. Nội hàm khái niệm năng lực cũng tùy vào cách tiếp cận và lĩnh vực áp dụng mà hiểu khác nhau. 

Trong lĩnh vực Chương trình giáo dục mấy năm gần đây, loại năng lực được nhiều nước quan tâm là những năng lực chung/ năng lực cốt lõi. Đây là loại năng lực mà bất kỳ một học sinh nào cũng cần được hình thành và phát triển để có thể đối mặt với những thay đổi và thách thức khi bước vào cuộc sống thực. 

Bên cạnh đó là các năng lực chuyên biệt do các lĩnh vực/ môn học cụ thể mang lại. Tuy cách phát biểu về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này. Có thể nêu lên mấy điểm thống nhất sau:

a) Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống (học tập và lao động).

b) Đánh giá năng lực là đánh giá khả năng thực hiện, vận dụng; thông qua làm, qua hành động để đo đếm, xác định chứ không chỉ yêu cầu biết và hiểu. Tất nhiên thực hiện/vận dụng ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải thực hiện một cách “máy móc”,“mù quáng”.

Đó là cách tiếp cận mới nhưng không phải xa lạ “từ trên trời rơi xuống” mà nó vốn đã có trong chương trình cũ nhưng chưa được hiểu đúng. Bởi các thành tố cơ bản cấu thành năng lực vẫn là kiến thức và kĩ năng; vì thế muốn hình thành năng lực vẫn phải thông qua kiến thức và kĩ năng. 

Tuy nhiên nếu chỉ mình kiến thức và kĩ năng, nhất là khi chúng tách rời nhau, thì chưa thể có năng lực thực sự.

2. Năng lực ngữ văn và đánh giá năng lực ngữ văn

Có nhiều cách hiểu về năng lực Ngữ văn. Căn cứ vào mục tiêu, tính chất và nội

dung chương trình môn học này từ trước đế nay; từ cách hiểu chung về năng lực, có thể nói năng lực Ngữ văn là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống. Năng lực Ngữ văn gồm 2 năng lực bộ phận là: Năng lực tiếp nhận văn bản và Năng lực tạo lập văn bản.

2.1) Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất là văn bản văn học. Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận. 

Tức là dựa vào những yếu tố, cơ sở nào (từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, biểu tượng, số liệu, sự kiện, tiêu đề, dấu câu…) để có thể có được các thông tin và cách hiểu ấy.

Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nghe và đọc. Nghe và phản hồi các thông tin nghe được một cách nhanh chóng, chính xác, không rơi vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”. 

Việc các nước phát triển trong nhiều kỳ thi phải tổ chức thi nói chính là để kiếm tra năng lực nghe/nói, năng lực trình bày miệng. Do tính chất và yêu cầu tổ chức phức tạp hơn nên hình thức thi nói ít được vận dụng. Việc đánh giá năng lực tiếp nhận chủ yếu dồn vào kĩ năng đọc hiểu văn bản.

Văn bản ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng. Đó không chỉ là các tác phẩm thơ văn nghệ thuật mà còn là các loại văn bản không phải là văn chương, như văn bản viết về lịch sử, địa lý, toán học, sinh học…khoa học thường thức hoặc một thông báo nơi công cộng, một bản thuyết minh công dụng và cấu tạo của máy móc, một đơn xin việc…

Nhiều nước gọi đó là văn bản thông tin – một loại văn bản rất gần gũi với mọi người và thường xuyên gặp trong cuộc sống. Về phương diện cấu trúc, bố cục cũng không chỉ kiểm tra mình loại văn bản viết liền mạch trên trang giấy mà còn rất nhiều loại văn bản kết hợp giữa kênh chữ và kênh hình (biểu đồ, đồ thị, minh họa, công thức, tranh ảnh, hình khối, bản đồ…), người ta gọi là văn bản không liền mạch (Non-Continuous Texts). Tất cả đều là những văn bản cần đọc hiểu và phải dạy cho học sinh cách đọc hiểu mỗi loại văn bản.

Tóm lại, bên cạnh việc yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; nhà trường cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu các loại văn bản thông tin, trong đó có rất nhiều văn bản kết hợp kênh chữ và kênh hình, học sinh phải biết đọc hình kết hợp với đọc chữ để nắm được thông tin và hiểu đúng ý nghĩa của văn bản.

2.2) Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa. Muốn có năng lực tạo lập phải biết cách tạo lập. Tức là nắm được cách viết một loại văn bản nào đó. 

Đánh giá năng lực tạo lập thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nói và viết. Kĩ năng nói gắn liền với nghe như đã nêu ở trên. Ngoài việc phản hồi nhanh và chính xác lại các thông tin nghe được; nói phải rõ ràng, rành mạch, lưu loát; từ nói đúng, nói hay đến nói hùng biện… 

Cũng như kĩ năng đọc ở năng lực tiếp nhận; việc kiểm tra đánh giá năng lực tạo lập chủ yếu dồn vào cho kĩ năng viết văn bản.

Văn bản yêu cầu học sinh tạo lập vẫn là các loại văn bản đã nêu ở phần trên, nhưng có khác ở mức độ, nhất là đối với văn bản văn chương nghệ thuật. 

Cụ thể là nhà trường chú trọng dạy cho HS cách tiếp nhận văn bản thơ văn nghệ thuật nhưng khó yêu cầu các em tạo lập ra được loại văn bản này. Bởi đây là loại văn bản phụ thuộc vào năng khiếu thiên phú, thiên bẩm không phải muốn là có, cố mà thành. 

Ngoại trừ một số rất ít học sinh có năng khiếu văn chương thực sự, còn lại đại đa số chỉ nên yêu cầu các em làm quen và nắm được đặc điểm của các thể loại tác phẩm văn chương để làm cơ sở cho việc tiếp nhận văn học tốt hơn, hiệu quả hơn. 

Nếu có yêu cầu tạo lập cũng chỉ ở một mức độ vừa phải như biết kể lại, tả lại một sự việc, con người, quang cảnh; biết phát biểu những suy nghĩ, cảm tưởng của bản thân một cách trung thực, xúc động… 

Việc đề thi không yêu cầu bắt buộc phải viết một truyện ngắn hay bài thơ, với việc có một vài học sinh nào đó làm bài dưới dạng truyện ngắn, bài thơ,… là hai chuyện khác nhau, không mẫu thuẫn gì nhau. 

Cũng như không phải có một số ít học sinh trở thành nhà văn, nhà thơ mà yêu cầu nhà trường phải dạy tất cả mọi học sinh phải biết viết truyện ngắn, tiểu thuyết, làm thơ hay viết tùy bút... 

Trong khi đó một số văn bản thông thường, gần gũi và thường xuyên phải sử dụng trong cuộc sống thì lại bị coi nhẹ. Hàng loạt học sinh ra đời vẫn không biết viết một bản tường trình, một đơn xin việc, một biên bản cuộc họp cho đúng nội dung và quy cách.

2.3) Để đánh giá năng lực ngữ văn (cả tiếp nhận và tạo lập) cần phải cụ thể hóa các kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) thành nhiều mức độ khác nhau. Theo từng cấp học, phù hợp với tâm lý-lứa tuổi mà yêu cầu từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp…Cũng từ đó mà lựa chọn một phương thức đánh giá cho phù hợp. 

Chẳng hạn với các kĩ năng nghe và nói, giáo viên chủ yếu thực hiện đánh giá hàng ngày, thông qua các buổi học trên lớp, các hoạt động tập thể, sinh hoạt lớp, đoàn, đội…Các kĩ năng còn lại (đọc, viết) ngoài việc kiểm tra hàng ngày (đánh giá quá trình) thường được chú trọng ở các kỳ kiểm tra, thi cuối cấp, cuối lớp (đánh giá kết thúc).

Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực khác đánh giá theo hướng cung cấp nội dung. Theo hướng nội dung, mục tiêu đánh giá tập trung vào xem người học biết những gì (nhiều ít); nội dung đánh giá chủ yếu là yêu cầu nhắc lại những nội dung đã học, những gì thầy, cô đã dạy, những bài có trong chương trình và sách giáo khoa; 

Cùng đó, yêu cầu chủ yếu là chứng minh những gì đã có sẵn, ca ngợi và phê phán một chiều, kiểm tra trí nhớ là chính; đề thi và đáp án khép kín, bắt buộc phải tuân thủ theo ý của người ra đề; còn diễn đạt, hành văn phụ thuộc hoàn toàn vào cảm tính, vào cái “gu”của người chấm… Kết quả là học sinh tập trung học thuộc lòng, chép văn mẫu.

Mục tiêu của đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực cần xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh vào việc giải quyết một bài toán mới, đáp ứng các yêu cầu mới trong một tình huống tương tự. 

Nội dung đánh giá không phải chỉ là những gì đã học mà còn là yêu cầu tổng hợp, liên hệ nhiều nội dung đã học; không chỉ giữa các phân môn trong môn học mà còn cả những hiểu biết từ các môn học khác. 

Tăng cường yêu cầu HS tìm mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng của bài học với các hiện tượng, sự vật, sự việc, con người…thường xuất hiện trong đời sống sinh hoạt cũng như công việc hàng ngày. 

Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng ý kiến và cách giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết phục… 

Muốn thế đề thi và đáp án cần theo hướng mở; với những yêu cầu và mức độ phù hợp; tránh cả hai khuynh hướng cực đoan: “đóng” một cách cứng nhắc, máy móc, làm thui chột sự sáng tạo và “mở” một cách tùy tiện “ không biên giới”, phi thẩm mỹ, phản giáo dục…

Theo tinh thần vừa nêu, hàng loạt câu hỏi tưởng đơn giản mà rất khó cần phải thống nhất. Chẳng hạn: Thế nào là đề mở? Các hình thức mở là gì ? Mức độ mở đến đâu? Đáp án mở như thế nào ? Lấy gì làm tiêu chí chung để so sánh các bài làm của học sinh? Thế nào là ý mới, ý sáng tạo?... 

Khó có thể nêu lên những tiêu chí và yêu cầu cụ thể nhằm trả lời cho các câu hỏi đó, nhất là trong một bài báo. Chỉ có thể trao đổi, xem xét trên cơ sở các đề thi và đáp án cụ thể. Do đó đòi hỏi các tổ ra đề, các hội đồng chấm thi cần bàn luận kỹ lưỡng trước khi quyết định sự lựa chọn đề và đáp án chính thức.

II. Đề xuất hướng ra đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn năm 2014

1. Nguyên tắc

a) Kiểm tra toàn diện hơn, bước đầu vận dụng cách đánh giá theo năng lực nhằm xác định đúng năng lực viết và năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh.

b) Yêu cầu vận dụng tổng hợp kiến thức và kĩ năng của nhiều lĩnh vực/ môn học để giải quyết một vấn đề chung, liên quan nhiều đến cuộc sống hàng ngày.

c) Phù hợp với thực tiễn dạy học, không gây sốc cho học sinh và giáo viên

d) Đảm bảo tiệm cận dần đến các yêu cầu khi thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới (sau 2015); tổ chức một kỳ thi quốc gia: làm một bài thi tổng hợp để vừa xét tốt nghiệp THPT, vừa xét tuyển sinh đại học.

2. Yêu cầu (Tổng điểm được tính theo thang 20) gồm:

2.1) Năng lực đọc hiểu (6/20)

a) Kiểm tra kiến thức về tiếng Việt: phát hiện những sai sót về chính tả, ngữ pháp, chấm câu, dùng từ, logic…. chẳng hạn cho một đoạn văn có nhiều sai sót và yêu cầu HS phát hiện những sai sót trong đoạn văn đó. (2 điểm)

b) Yêu cầu tóm tắt ý chính của một đoạn văn bản cho trước (VB có thể là văn học, sử , địa, khoa học tự nhiên…) (2 điểm)

c) Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của biện pháp đó trong một đoạn thơ/ văn cho sẵn (2 điểm)

Về lâu dài có thể tăng số lượng điểm về đọc hiểu và kiểm tra bằng dạng Trắc nghiệm như PISA hoặc Kỳ thi tốt nghiệp THPT bang California ( Hoa Kỳ).

2.2) Năng lực viết (14/20)

a) Viết nghị luận xã hội (7/20 điểm): yêu cầu tích hợp các kiến thức lịch sử, địa lý, đạo đức, văn hóa…) ra theo dạng đề mở và đáp án mở.

b) Viết Nghị luận văn học (7/20 điểm): yêu cầu phân hóa cao hướng tới tuyển sinh đại học. Đề yêu cầu vận dụng sáng tạo những hiểu biết về kiến thức và kĩ năng văn học để thực hành, phân tích, đánh giá, bình luận, bác bỏ một vấn đề văn học, một văn bản, trích đoạn chưa được học trong SGK hiện hành.

Về lâu dài có thể tích hợp 2 câu này thành một bài viết tổng hợp như bài thi viết của bang California (Hoa Kỳ)

2.3) Đánh giá kết quả:

- Điểm xét tốt nghiệp: những HS đạt từ 10/ 20 điểm trở lên.

- Các trường ĐH, nhất là các trường theo hướng XH-NV căn cứ vào tổng điểm 3 câu và điểm của câu 3 để xét tuyển sinh.

3. Đề tham khảo

Đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn (120 phút, không kể thời gian phát đề)

1) Đọc và trả lời các câu hỏi sau (6/20)

a) Đây là một đoạn văn nháp, trong đó còn mắc phải một số lỗi về ngữ pháp, chính tả, dùng từ, logic… Anh, chị hãy chỉ ra những sai sót đó. (2 điểm)

Đoạn văn nháp: “…cái nhìn của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên là một sinh thể có linh hồn với những tính cách đối địch: vừa hung bạo, vừa dữ rằn. Đây là lối nhân cách hóa những đặc điểm vốn có của giòng sông thiên nhiên mà chực quan có thể nhìn thấy.”

b) Đoạn văn sau nói về vấn đề gì? Hãy đặt tên cho đoạn trích (2 điểm)

“Ở người lớn tuổi ít vận động cơ bắp, nếu chế độ ăn giàu chất Colesteron (thịt, trứng, sữa…) sẽ có nhiều nguy cơ bị bệnh xơ vữa động mạch. Ở bệnh này, colesteron ngấm vào thành mạch kèm theo các ion canxi làm cho mạch bị hẹp lại, không còn nhẵn như trước, xơ cứng và vữa ra. 

Động mạch xơ vữa làm cho sự vận chuyển máu trong mạch khó khăn, tiểu cầu dễ bị vỡ và hình thành cục máu đông gây tắc mạch. Động mạch xơ vữa còn dễ bị vỡ gây các tai biến trầm trọng như xuất huyết dạ dày, xuất huyết não, thậm chí gây chết người”.

(Sinh học - lớp 8. NXB Giáo dục 2007)

c) Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của chúng trong đoạn thơ sau (2 điểm):

“ Chúng đem bom ngàn cân

Dội lên trang giấy trắng

Mỏng như một ánh trăng ngần

Hiền như lá mọc mùa xuân ”

(Trang giấy học trò - Chính Hữu)

2. Cho tình huống sau: Giả sử trong những ngày tháng Năm lịch sử, tại mảnh đất Điện Biên hôm nay, anh, chị được gặp một người anh hùng trong chiến dịch Điện Biên năm xưa… Anh, chị và người ấy sẽ nói với nhau chuyện gì ? Đi thăm những nơi nào? Hãy ghi lại điều đó và phát biểu những suy nghĩ, cảm xúc của mình sau cuộc gặp gỡ ấy. (7/20 điểm)

3. Viết về một nhân vật trong tác phẩm văn học đã để lại cho anh, chị nhiều ấn tượng sâu đậm. (7/20 điểm)

Hoặc: Viết một bài văn trả lời câu hỏi: Cuộc sống sẽ như thế nào nếu thiếu thơ ca? (7/20 điểm)

Hoặc: Ngôn ngữ thơ Việt Nam rất giàu nhạc tính. Anh, chị hãy viết bài văn làm sáng tỏ nhận định đó qua một đoạn thơ tự chọn. (7/20 điểm).
giaoducphothong.edu.vn

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Phó Vụ trưởng gỡ rối dạy học "tích hợp, liên môn"

Phó Vụ trưởng gỡ rối dạy học "tích hợp, liên môn"

Trước băn khoăn của nhiều giáo viên về dạy học tích hợp, liên môn - phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học (Bộ GD-ĐT) Nguyễn Xuân Thành gửi tới VietNamNet bài viết giải thích thêm về phương pháp dạy học được xem là giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục trong giai đoạn tới. Dưới đây là nội dung bài viết.
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên.Thế nào là dạy học "tích hợp, liên môn"?

Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học. Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn như bạn hỏi.

Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông...

Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác.

Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan.

Sự khác nhau giữa chủ đề "đơn môn" và chủ đề "liên môn"?

Chủ đề đơn môn đề cập đến kiến thức thuộc về một môn học nào đó còn chủ đề liên môn đề cập đến kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học.

Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thì không có gì khác biệt. Đối với một chủ đề, dù đơn môn hay liên môn, thì vẫn phải chú trọng việc ứng dụng kiến thức của chủ đề ấy, bao gồm ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng trong các môn học khác.

Do vậy, về mặt phương pháp dạy học thì không có phân biệt giữa dạy học một chủ đề đơn môn hay dạy học một chủ đề liên môn, tích hợp.

Điều quan trọng là dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi phải tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, mà các hoạt động ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường, ở nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Ưu điểm với học sinh

Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc.

Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.

Ưu điểm với giáo viên

Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do:

Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó;

Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học;

Vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp. Thế hệ giáo viên tương lai sẽ được đào tạo về dạy học tích hợp, liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm.

Giáo viên có gặp khó khăn?

Khó khăn của giáo viên hiện nay nếu có chỉ là vấn đề tâm lí. Về thực chất thì không có nhiều khó khăn cả về kiến thức lẫn phương pháp dạy học.

Hơn nữa, từ nhiều năm nay, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tích hợp nhiều nội dung giáo dục vào quá trình dạy học các môn học trong trường phổ thông như: giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục pháp luật; giáo dục phòng chống tham nhũng; giáo dục chủ quyền quốc gia, tài nguyên và môi trường về biên giới, biển, đảo; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; giáo dục an toàn giao thông...

Về dạy học kiến thức liên môn, Bộ cũng đã tổ chức tập huấn giáo viên về rà soát chương trình, SGK, xây dựng các chủ đề liên môn.

Để chuẩn bị cho năm học này, vừa qua Bộ GD-ĐT cũng đã tập huấn giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, trong đó tập trung xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và chủ đề tích hợp, liên môn phù hợp với phương pháp dạy học tích cực và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, nhà trường. Bên cạnh tập huấn giáo viên cốt cán....

Tới đây, Bộ sẽ ban hành văn bản "Hướng dẫn nội dung sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn và tham gia diễn đàn trên mạng về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường phổ thông".

Mục đích là để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong trường phổ thông, tập trung vào thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh; đồng thời giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu chủ động lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp, liên môn.

Mặt khác xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với các chủ đề theo hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh, tạo tiền đề tích cực cho việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015.

Giáo viên cần trang bị những gì?

Giáo viên cũng không phải trang bị thêm nhiều về mặt kiến thức vì bản chất vẫn là dạy học môn học mà mình đang dạy. Mặt khác, trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.

Vấn đề bây giờ là phải vận dụng những kiến thức đó để: xây dựng các chủ đề dạy học; xác định những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi chủ đề; biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học; thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học của học sinh; tổ chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm. Đó chính là nội dung trọng tâm sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn được nêu trong hướng dẫn nói trên.

Bộ GD-ĐT dự kiến yêu cầu các đơn vị đặt ra định mức cho mỗi tổ/nhóm chuyên môn là xây dựng và thực hiện được tối thiểu 2 chủ đề/học kì. Việc thực hiện những chủ đề ấy chính là môi trường huấn luyện tốt nhất cho giáo viên ở trong tổ bộ môn, trong nhà trường.

Tất nhiên giáo viên còn phải tăng cường giao lưu với các tỉnh khác, đơn vị khác thông qua diễn đàn trên mạng mà Bộ GD-ĐT mới xây dựng.

Nguyễn Xuân Thành (Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ GD-ĐT)
Nguồn: vietnamnet.vn

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Đổi mới giáo dục sau năm 2015: Đề thi sẽ nằm ngoài sách giáo khoa

PHẠM MAI (VIETNAM+) 
Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam. (Ảnh: PM/Vietnam+)

Cuối tháng 11 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015. Để tìm hiểu rõ hơn về đề án cũng như những bước triển khai tiếp theo, phóng viên Vietnam+ đã có cuộc phỏng vấn phó giáo sư, tiễn sỹ Đỗ Ngọc Thống, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, ủy viên bộ phận Thường trực đổi mới chương trình, sách giáo khoa, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Thưa ông, sau khi được Quốc hội thông qua Nghị quyết, các bước tiếp theo sẽ được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai như thế nào?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Theo lộ trình, đến năm học 2018-2019 sẽ triển khai dạy theo chương trình, sách giáo khoa mới. Chúng ta có hơn 3 năm để làm chương trình và sách. Muốn làm sách, trước hết phải có chương trình và chuẩn chương trình.

Hiện chương trình đã có định dạng tổng thể, nguyên tắc, tư tưởng, hệ thống môn học, định hướng phát triển các môn học. Bộ đang tập trung để hình thành các tiểu ban chương trình môn học. Trong năm 2015 sẽ tập trung xây dựng chương trình. Cái khó hơn là làm chuẩn chương trình. Chương trình quy định dạy cái gì còn chuẩn chương trình là dạy nội dung đó đạt mức độ nào theo từng giai đoạn, từng lớp học.

Xây dựng xong chương trình và chuẩn, Bộ sẽ tiến hành làm sách để tới năm học 2018-2019 ít nhất có một bộ sách giáo khoa hoàn chỉnh và một số cuốn sách giáo khác.

- Nhiều ý kiến lo ngại rằng với khối lượng công việc rất lớn trong một thời gian ngắn liệu có kịp, thưa ông?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Trong hơn ba năm phải làm hai việc đó tất nhiên là phải nỗ lực rất lớn, nhất là khi chúng ta triển khai đồng thời cả ba cấp học.

Về tiến trình là phải có chương trình, có chuẩn chương trình rồi mới làm sách nhưng kỹ thuật không nhất thiết theo lộ trình đó. Có thể cùng lúc làm chương trình chúng ta sẽ huấn luyện luôn cho các tác giả viết sách và để các tác giả liên tục tiếp cận, làm quen với chương trình và chuẩn chương trình chứ không đợi xong hoàn chỉnh chương trình mới giới thiệu. Vì thế, các tác giả sẽ có thời gian tiếp cận dần và có ý tưởng dần để có tiến độ nhanh hơn khi viết sách.

- Vậy chương trình, sách giáo khoa mới sẽ có gì khác với chương trình và sách giáo khoa hiện hành?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Có rất nhiều điểm khác, nhưng điểm khác căn bản nhất là định hướng tiếp cận mục tiêu, chuyển từ nền giáo dục nặng nhồi nhét kiến thức hàn lâm, gây quá tải cho học sinh, sang nền giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực người học. Chương trình mới không quan tâm nhiều đến học sinh biết những gì mà quan tâm việc học sinh biết vận dụng kiến thức, liên kết với nhau để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.

Định hướng đó sẽ làm thay đổi rất nhiều trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, từ nội dung, phương pháp, đến cách thức tổ chức dạy học, sách giáo khoa.

- Những thay đổi đó liệu có làm học sinh bỡ ngỡ, thưa ông?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Có những thay đổi lớn nhưng không phải mới hoàn toàn. Chương trình mới chủ yếu điều chỉnh cách dạy, cách học chứ không phải thay đổi nội dung kiến thức. Thậm chí nội dung sẽ rút bớt yếu tố lý thuyết hàn lâm, quá khó chưa cần thiết ở bậc phổ thông nên sẽ nhẹ đi.

Ví dụ vẫn những định lý, định luật đó nhưng thay đổi về cách khai thác, cách vận dụng các định luật đó vào trong cuộc sống. Chương trình ngữ văn lớp 6 trước đây dạy 4, 5 truyền thuyết thì giờ chỉ học một truyền thuyết, nhưng giáo viên sẽ hướng dẫn cho các em cách đọc, hiểu một truyền thuyết như thế nào, từ đó các em sẽ có kỹ năng để tự tìm đọc những truyền thuyết khác. Cũng trong môn học này, trước đây chúng ta chỉ chú ý đến kỹ năng đọc và viết thì bây giờ sẽ chú trọng cả việc nghe và nói, để học sinh biết cách trình bày quan điểm một cách mạch lạc…

Dự kiến từ năm học 2018-2019, học sinh sẽ học theo chương trình, sách giáo khoa mới. (Ảnh: Phạm Mai/Vietnam+)

- Mục đích học và phương pháp dạy thay đổi, thi cử sẽ thay đổi theo như thế nào, thưa phó giáo sư?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Thi cử tất nhiên cũng thay đổi theo. Đề thi không kiểm tra kiến thức học thuộc lòng mà phải đo được năng lực, cách nghĩ, tư duy của học sinh, cách xử lý vấn đề. Thi không nhằm kiểm tra xem học sinh biết gì mà là biết vận dụng kiến thức như thế nào. Vì thế, bài thi không thể thể nhắc lại các bài học cũ mà phải có yêu cầu cao hơn nhiều, nhất là trong bối cảnh nhiều sách giáo khoa thì thi cử sẽ không phụ thuộc bất kỳ cuốn sách nào mà phải căn cứ vào chuẩn chương trình.

- Nghĩa là yêu cầu của đề thi nằm trong chương trình nhưng nội dung cụ thể (văn bản, tình huống, dữ liệu...) có thể nằm ngoài sách giáo khoa, thưa ông?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Đúng thế. Ví dụ ở trường dạy các em cách đọc hiểu một văn bản thì thi sẽ có một văn bản khác ngoài sách để đánh giá xem các em vận dụng các kỹ năng đọc hiểu văn bản đó như thế nào.

- Một điểm cũng khá được dư luận quan tâm trong chương trình mới là sẽ có 20% thời lượng được thiết kế mềm dẻo để các địa phương linh hoạt trong bổ sung nội dung, bố trí thời gian giảng dạy. Nhiều ý kiến cho rằng 20% là quá nhiều. Ông có thể giải thích rõ hơn vấn đề này?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Chúng tôi đã tham khảo chương trình của nhiều nước và tất cả chương trình của các nước phát triển đều theo hướng này. Tôi muốn nhấn mạnh lại ở đây là 20% thời lượng chứ không phải 20% nội dung chương trình.

Với 20% thời lượng đó sẽ giúp địa phương làm hai việc. Thứ nhất là giới thiệu các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội của địa phương, các yêu cầu mà địa phương cho là cần thiết…  Thứ hai là để các nhà trường linh hoạt bố trí lịch học cho phù hợp với đặc thù như tránh mưa gió, rét, lũ lụt…

-Vậy địa phương sẽ phải làm gì để có thể cùng Bộ hoàn chỉnh nội dung này, thưa ông?

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống: Địa phương có vai trò hết sức quan trọng. Trước hết, họ hỗ trợ Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc cử giáo viên giỏi để tham gia làm chương trình, sách giáo khoa. Điều này nhằm đảm bảo tính thực tiễn, khả thi của chương trình và sách mới.

Các địa phương cũng sẽ phải rà soát lại cả về cơ sở vật chất và đội ngũ nhân lực để phối hợp với trung ương bổ sung, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu giảng dạy chương trình, sách giáo khoa mới.

Bên cạnh đó, địa phương phải xác định được nội dung giáo dục của mình trong 20% thời lượng chương trình và lập ban đổi mới của địa phương để cùng Ban đổi mới chương trình quốc gia thực hiện đồng bộ việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa.

Tất nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ không buông hoàn toàn để địa phương tự làm mà sẽ có hướng dẫn để địa phương thực hiện.

-Xin cảm ơn ông!

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Đề thi 120 phút- Chủ đề Văn xuôi hiện đại VN lớp 12

MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ 1
CHỦ ĐỀ VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM LỚP 12
Thời gian làm bài: 120 phút
MỨC ĐỘ

CHỦ ĐỀ
NHẬN BIẾT
THÔNG HIỂU
VẬN DỤNG
TỔNG SỐ
Thấp
Cao
1. Đọc hiểu
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)
Nhận diện phương thức biểu đạt của văn bản
Nêu nội dung chính của văn bản gắn với phương thức biểu đạt
Phân tích và Hiểu tác dụng của hình thức nghệ thuật được sử dụng trong văn bản
Viết đoạn trình bày cảm nhận của bản thân về ý nghĩa 1 chi tiết, 1 hình ảnh trong văn bản

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ
1
10%

1
1.0
10%
1
1.0
10%
3
3.0
30%
2. Làm văn
(Ai đã đặt tên cho dòng sông / Người lái đò sông Đà)



Vận dụng kiến thức đọc hiểu và kỹ năng tạo lập văn bản để viết bài nghị luận về một nhân vật văn học kết hợp với vấn đề xã hội

Số câu
Số điểm
Tỷ lệ



1
7.0
70%
1
7.0
70%
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỷ lệ
1
1.0
10%
1
1.0
10%
2
8.0
80%
4
10.0
100%

Ghi chú: văn bản trích dẫn của phần đọc hiểu và làm văn không liên quan với nhau.


_____________________________-



ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 - NĂM HỌC 2014 - 2015
MÔN: Ngữ văn - KHỐI: 12
Thời gian làm bài: 120 phút
__________________

I.              ĐỌC HIỂU:(3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
       …“ Tôi về Thành Trung vào đầu xuân. Làng Châu Hoá đang rộ mùa rau trái, khí đất hùng hậu, hương đất nồng nàn tưởng như nhìn là thấy được. Trong đêm khuya, chưa bao giờ tôi được nghe một mùi đất thơm đến vậy, xao xuyến như da thịt, sâu  thẳm như thời gian. Chính lúc ấy, tôi liên tưởng đến sông Hương với cái tên gợi cảm của nó; Sông Hương như hiện thân thành một cô gái thần tiên trong truyện cổ nào thuỳ mị đứng bên tôi, nghe tôi hỏi giọng bồi hồi: - Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy; trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý nghĩa của truyền thuyết ấy như thế này: con  người  đã đặt tên cho  dòng   sông như nhà  thơ chọn  bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử.”
                              (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường)
1.     1. Xác định phương thức biểu đạt của văn bản.
2.    2.  Gọi tên hai biện pháp tu từ và nêu hiệu quả sử dụng của biện pháp tu từ đó.
3.   3.   Viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) trình bày ý nghĩa chi tiết “con người ở hai bên bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi”
II. LÀM VĂN: (7 điểm)   
Phân tích vẻ đẹp hình tượng ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân để thấy được vẻ đẹp của con người lao động Tây Bắc. Từ đó, anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm của người lao động trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
-----Hết-----


Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Đề 90 phút - Lớp 12

PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi ở bên dưới:
“ Tôi lên vùng Cấm Sơn
Đi tìm thăm bộ đội
Đây bốn bề núi, núi
Heo hút vắng tăm người
Đèo cao rồi lũng hẹp
Dăm túp lều chơi vơi
Bộ đội đóng ở đó
Cách xa hẳn cuộc đời”
(Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu)
Sự khác biệt của từ “ chơi vơi” trong hai câu “Dăm túp lều chơi vơi”(Lên Cấm sơn) và “Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi” (Tây Tiến).
PHẦN LÀM VĂN
 Về vẻ đẹp của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: người lính ở đây mang vẻ đẹp cổ điển. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang vẻ đẹp hiện đại.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng trong bài thơ, anh/chị  suy nghĩ gì về những ý kiến trên.